Cụ NGUYỄN HỮU HIỆT (hiệu THẠCH LỮ)
(1891-1991)
Cụ NGUYỄN HỮU HIỆT sinh năm 1891 tại làng Đại Hòa, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Tiên sinh là hậu duệ của nhà toán học và lịch học Triều Nguyễn Nguyễn Hữu Thận (1757-1831) Hiệp Biên Đại học sĩ, Chơn Nguyễn Hầu. Thân phụ là một nhà nho yêu nước, mẹ mất sớm nên tiên sinh sống với kế mẫu. Tiên sinh học chữ Nho, là những người học và thi chữ Nho cuối cùng của triều Nguyễn.
Năm 27 tuổi tiên sinh đi thi hương triều Nguyễn, đậu "đầu xứ", đậu Tú tài được cử ra làm quan, nhưng tiên sinh từ chối, ở nhà làm thầy thuốc cứu người và dạy học. Người trong tỉnh thường gọi là cụ Tú Hiệt.
Năm 1919 làm Ban trị sự Hội Hưng nghiệp Hội xã, Chánh phủ Pháp thuộc tình nghi Cộng sản bị giam cầm 02 tháng.
Thời cụ làm với Hội buôn Hưng nghiệp không theo anh em Cộng sản, giữ vững trung lập. Những năm bị mất mùa làm ruộng không đủ sống, cụ xin đi làm trợ giáo chữ Hán tại trường Quốc học Huế, vì cụ không có bằng Rimé nên không hợp lệ . Cụ được bổ cho làm Thừa phái tại Bộ Lại, cụ từ chối. Sau ngày chia hai đất nước chánh phủ Miền Nam mời cụ làm tri phủ Triệu Phong vì có công trong phủ. Nhưng cụ từ lánh không đi.
Năm 1947 Chánh phủ Cách mạng nghi phản động bị mời lên tỉnh rồi giam ngục kín 18 ngày tiếp đưa đi an trí đồn Ba Tơ hơn 3 tháng. Nhưng sau đó không tìm ra bằng chứng gì đã thả cụ về quê quán.
Năm Bính Thân 1956 thành lập Hội Y Dược Quảng Trị được bầu làm Hội trưởng Hội Y Dược Quảng Trị. Tháng 9 năm 1956 cụ đi thành lập Hội Y Dược Hải Lăng.
Cụ được Đại hội đồng bầu làm Hội trưởng Hội Cổ học Quảng Trị vào năm Mậu Tuất 1958. Mùa xuân năm ấy đi dự đại hội tại Di luân đường Huế.
Cuối năm 1958, các Hội viên yêu cầu làm Hội trưởng Hội Cổ học Quảng Trị thêm năm nữa. Ngày quốc khánh năm 1959 được mời dự tiệc với Uỷ Hội quốc tế đình chiến tại La Vang, ngồi đối diện với Uỷ hội Ba Lan.
Tháng 7 năm 1961 Nguyễn Quốc Quỳnh tỉnh trưởng Quảng Trị nhờ sưu tầm sự tích ngôi chùa Sắc Tứ có tài liệu trình Nha Du Lịch xin trùng tu.
Năm 1972, mùa hè đỏ lửa xảy ra, cụ vào Đà Lạt sống với con trai , không hợp với khí hậu lạnh nên năm 1973 cụ ra Quảng Ngãi sống với con gái út. Sau đó vài tháng cô con gái út bà Nguyễn Thị Mơ bị tai nạn giao thông mất, cụ vào Nha Trang sống có cô con gái kế là bà Nguyễn Thị Mai chăm sóc. Năm 1973 vào Nha Trang, Hội Khổng học Nha Trang mời làm cố vấn cho Hội. Cụ đã ở Nha trang cho đến ngày ra đi mãi mãi.
Cụ mất lúc 7giờ sáng ngày 20/1/1991 ( tức ngày 5 tháng chạp năm Canh Ngọ) tại tư gia 14 Trần Quang Khải Thành phố Nha Trang để lại muôn vàn thương yêu và luyến tiếc của gia đình và thân hữu.
Về gia đình: Cụ sinh hạ ba người con trai và năm người con gái. Con trai trưởng là ông Nguyễn Hữu Kiêm, đậu tú tài Pháp, được bổ làm Phán sự tại Quảng Bình, thường gọi là Phán Kiêm.
NGUỒN:
Cụ Thạch Lữ chụp tại Đà Lạt 1960
MỪNG TUỔI CHÍN TƯ
Leo thấu thang trời nấc chín tư,
Hãy còn sáu nửa gắng lên ư?
Tiếng tăm với tết nghe tràng pháo,
Tâm sự cùng xuân gởi vận thơ.
Lòng đạo có sau như có trước,
Tình đời không thiếu cũng không dư.
Sống lâu tầng trãi nhiều thay đổi,
Gió mới trăng xưa giữa lúc chừ.
THẠCH LỮ
THU NHỚ BẠN
Đất khách phiêu bồng trải mấy thu,
Vắng nghe đàn địch vắng nghe cu.
Non Mai sông Hãn trời xa tít,
Tùng cúc vườn xưa cảnh mịt mù.
II
Đèn chong canh vắng một mình ngồi,
Khó tả tâm tình gởi đến ai.
Duyên nợ ba sinh bèo với nước,
Cớ sao nước chảy để bèo trôi.
III
Nước bèo gắp gỡ nợ hay duyên ?
Thanh khí cùng nhau khách một thuyền.
Gió ngược thuyền trôi bèo lững đững.
Khúc đàn tri kỷ giấc cô miên.
THẠCH LỮ
cụ tại Nha Trang cùng gia đình Con Rể Cháu Chắt
ĐIẾU VĂN KHÓC CỤ THẠCH LỮ CỦA HỘI KHỔNG HỌC KHÁNH HÒA VÀ THI XÃ NHA TRANG.
Kính thưa chính quyền địa phương.
Qúy vị quan khách thân bằng quyến thuộc và tang gia
Cho phép tôi đọc văn điếu Cụ trước linh sàng.
Kính điếu dâng hương hồn Thạch Lữ Nguyễn Hữu tiên sinh
Thạch Lữ Tiên sinh ô!
Xa nhau âu cảnh dương trần
Nhớ nhau tình dệt đôi vần tiếc thương.
Chúng tôi đại diện hội Khổng học cũ Khánh Hòa, Văn hội Diên Khánh và Thị xã Nha Trang, được tin Cụ quá cố như sét đánh bên tai đất bằng sấm dậy, nghe Cụ bệnh chưa kịp hầu thăm thì hôm nay trở ra người thiên cổ.
Hởi ôi! Én đưa thoi ngày tháng trớ trêu
Người kết liễu cuộc đời trăm tuổi
Sinh ly tử biệt đau đớn muôn vàn, kẻ mất người còn chứa chan giọt lệ, Ôi ! gặt tiết đại hàn bầu trời xám như ủ rũ màu tang, cảnh vị nhân sầu lòng buồn man mác…
Than ôi! Duyên thơ thi bá mất rồi,
Đời người chiếc lá phương trời gió bay
Với chứng bịnh già người đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 7g sáng ngày 20 tháng giêng năm 1991 (5 tháng 12 Canh Ngọ) tại tư gia 14 đường Trần Quang Khải Nha Trang để lại một mối cảm tình cho người ở lại nhớ thương vô hạn.
Hởi ôi!
Cảnh non Cù mịt mờ khói tỏa
Quê Sông Hản ảm đạm mây tuôn
Cuộc trần hoàng muôn thuở đau buồn
Tình cố cựu nghìn thu vĩnh biệt
Đau đớn bấy nỗi lòng tha thiết
Tình thi ông phút chốc lại thành không
Đường vân xa bay vút cánh chim hồng
Miền cực lạc nhẹ nhàng buông cánh hạc…
Nhớ linh xưa:
Tánh trời trung liệt, nết rất thảo hiền,
Sĩ khí nho phong, tao nhân mặc khách.
Xưa xuất thân Tú tài Hán học nơi quê hương.
Quảng Trị không màng danh lợi muốn ẩn cư, tiêu khiển với nghề Đông y Dược sĩ, rồi ngày tháng lại qua, cuộc đời dâu bể, cụ di cư vào Đà Lạt non nước hữu tình để ngắm hoa thơm cỏ lại tiêu khiển với gió trăng mây nước mà ngâm vịnh với bạn tao đàn.
Một thời gian rồi Cụ mới trở lại Nha thành định cư để tịnh dưỡng thân tâm, vui hưởng trăng trong gió mát, không khí hiền hòa của biển Yến non Cù mà nâng chén tha hương an nhàn cảnh lão với các bạn làng thơ. Sáng đi bách bộ trên đường Trần Quang Khải, chiều dạo mát bãi biển Nha Trang vui thú cuộc đời.
Nhưng – Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đơn tâm chiếu Hản thanh
Không ngờ số trời đã định, hưởng thọ bách tuế vi kỳ hạc giá qui tiên an nhàn cỏi tịnh quí hóa vô cùng.
Thạch Lữ ôi!
Nẽo âm dương cách ba tấc đất,
Tình thanh khí tìm bốn phương trời
Đâu còn thấy Cụ, thơ xướng họa còn đây, mà người xưa sao vắng!
Trần đời trăm tuổi dễ gì ai?
Nay cụ hoàn nhân trọn đức tài
Tác phúc thi ân mừng quả kết
Từ bi bác ái thấy hoa khai
Rừng nho giếng quí vui ngày lão
Cửa Khổng sân Trình thỏa chí trai
Chúc Cụ mau về nơi cỏi Phật
Dạo chơi non nước chốn bồng lai.
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiên Phật ngô vô sinh…
Còn đâu xướng họa tâm tình,
Hởi ôi ! Thương thay ! tiếc thay !
Phục Huy phủ giám
Chúng tôi đồng kính vãng
(Đọc trước linh sàng ngày 22/1/1991)





.jpg)
No comments:
Post a Comment