Trời
khá khuya, tiếng
chơi đùa của lũ con nít ngoài ngã ba xóm Cửa Hậu trước thành vắng dần. Vài anh
học sinh lứa tuổi thanh niên đang ngồi trên bờ cống nước chảy vào hồ thành. Ánh
sáng ngọn đèn đường đang giúp mấy anh đang ôn bài học luyện thi. Nghe thật xa,
đâu đó thỉnh thoảng có vài tiếng đại bác vọng về thành phố.
Hơn mười giờ đêm rồi, con đường Lê
văn Duyệt nép theo bờ hồ càng lúc càng vắng người. Rất lâu mới có tiếng honda
chạy vội qua. Thỉnh thoảng có tiếng chim cuốc dưới hồ vọng lên nghe khá rõ.
Tiếng quốc kêu đêm nghe đã quen tai, nhất là những đêm có trăng, tiếng cuốc kêu
rộn rã hơn nhiều. Bỗng có tiếng rao phá tan trời đêm tĩnh lặng...
-PHỞ!
Khoảng giờ này là xe phở của bác đi ngang qua ngã ba trước
Cửa Hậu. Có ai đó đang cầm tô tất tả chạy ra. Đêm nào cũng vậy, dù có
khách hay không chiếc xe phở đi ngang ngã ba xóm chúng tôi thì dừng lại. Bác
bán phở vừa đợi khách vừa nghỉ mệt một lát. Trước khi có xe phở
đẩy trên thì người thành phố Quảng Trị có hàng phở gánh bán dạo từ lâu.
Nghề phở gánh chỉ dành cho mấy bác. Mấy o thường gánh những triêng hàng bún
xáo, cháo lòng hay đậu hũ chẳng thấy mấy bác đàn ông nào gánh bún xáo, bánh bèo
đi bán dạo cả. Nói về phở gánh "ngày trước của ngày xưa", người viết
còn nhớ người mình hồi đó chẳng ai phân biệt phở Bắc hay phở Nam gì cả. Phở là
phở, khác với bún bò, cơm cháo... vậy thôi. Nhưng về tiếng để kêu thì ít ai nói
"đọi phở" mà là "tô phở" do người mình biết nó là món ăn từ
bắc vào. Ngược lại bà con mình lại kêu bình dân hơn là "đọi bún bò"
hay "đọi bún xáo". Tiếng kêu "tô bún bò" khi chúng ta vào
tiệm hay quán đó thôi.
Tác giả xin không nhắc hay tả về tô phở trong tiệm ăn
do nó lủ khủ đủ thứ… nào rau, ớt, chanh, hành, hay ngò gai, húng quế. Người
viết chỉ muốn kể lại với bạn đọc trước tiên là HÀNG PHỞ GÁNH của một
bác bán phở năm xửa năm xưa lúc tác giả mới vài tuổi. Trong trí nhớ mù mờ đó,
người kể còn nhớ hình ảnh một bác dáng người lam lủ và gánh phở
ám khói ngày đó. Gánh phở đó cũng ngang qua xóm chúng tôi, cũng bờ hồ thanh
vắng và con đường thân yêu tưởng chừng là muôn thuở. Có thể khách ăn đêm như
thế phải hòa mình trong không khí vắng vẻ cùng một cảm giác se se lạnh ở góc
đường hay cuối kiệt nào đó như trước xóm tôi.
PHỞ GÁNH XƯA
phở gánh xưa Hà Nội chẳng khác gánh phở TP Quảng Trị 1960 cũng hai thùng gỗ vuông hai đầu nhưng chỉ có một bác gánh hàng đêm đi bán. Tác giả cỡ tuổi trong hình có ăn tô phở gánh QT xưa nên mới có cơ hội viết lại chứ không hề Hư Cấu ?
Từ xửa, từ xưa... không biết ai tạo ra gánh phở cho bác bán
dạo về đêm quanh thành phố QT? Mỗi khi bầu trời thực sự tối, bác bắt đầu cuộc
hành trình quanh thành cổ thân quen. Bác luôn mặc quần đùi . Hình như đời bác
không biết quần dài là chi nữa! Chiếc áo kaki bạc màu. Hai vai áo vá
nhiều lớp do gánh phở hằn nặng lên đôi vai bác không biết bao năm.
Mô tả về triêng phở gánh; đại khái nó được tạo từ hai thùng
gỗ vuông, hình khối chữ nhật đứng, có chân nhỏ. Trên mỗi thùng, bện hai sợi
thừng chắc chắn để móc đòn gánh. Thùng sau được thiết kế làm sao để bác đặt gọn
được nồi nước súp. Bên dưới nồi súp, có một bếp củi thật gọn, lửa cháy leo lét
để giữ nồi súp luôn nóng. Thùng gỗ phía trước bác chia ra nhiều tầng, đủ thứ
như tô, đũa, rau ,hành và thịt. Phía trên là một mặt bằng nhỏ , bác dành chỗ để
làm phở cho khách. Thấy thì đủ thứ, nhưng bác sắp đặt thật khéo léo nên chẳng
thiếu món gì. Đã thế, phía ngoài bác không quên móc theo cái đèn bão có 4 mặt
kính chắn gió. Chiếc nón lá sờn rách theo năm tháng, bác không quên móc theo ở
thùng gỗ sau, phòng mưa.
"Giang sơn" của bác chỉ có thế. Cái đòn gánh cong cong quằn nặng theo
hai đầu gánh phở. Bác thường tìm một ngã ba hay trước mấy con hẻm lớn, cũng như
mấy con đường kiệt.
-PH.. Ơ… Ở….
Bác cất tiếng rao, tiếng ngân vang sâu vào trong mấy xóm vắng ngoại ô.
Người viết có dịp so sánh khi vào nam.Trong nam, tiếng rao
phở ban đêm được thế bằng tiếng gõ lóc cóc của hai thanh gỗ. Như vậy tôi có dịp
so sánh với tiếng rao của gánh phở QTrị xưa nghe sao lanh lảnh, âm sau cùng khi
nào cũng cao vút lên:
-ph…ơ…Ở……
Ánh điện đường như biết 'cảm thông' giúp bác bán phở, đêm đêm tỏa xuống dù chỉ
là thứ ánh sáng vàng vọt mờ mờ. Có khách mua phở, bác ngưng rao. Bác xem
chừng thận trọng đặt cái tô nho nhỏ lên mặt trên chiếc thùng gỗ. Sau khi nhúng
lại nắm phở tươi mềm mại, bác cắt nhanh thật mỏng từng lát thịt bò, không quên
gia thêm một chút vị tinh (bột ngọt) hiệu Thái sơn từ cái hộp sắt Tây luôn đặt
gần bên. Xong, bác quay lưng dở nắp nồi súp đàng sau. Dưới ánh đèn đêm
tôi thấy rõ nồi súp đang bốc hơi, lan tỏa lên một làn khói trắng mờ.
Chẳng đòi hỏi chi, khách cứ tự tìm nơi nào thuận tiện bên vệ
đường, ngồi xuống xì- xụp thưởng thức tô phở bình dân đó. Trời càng khuya
con đường ngoại ô càng trở nên vắng vẻ. Hình như nhờ thế, khách ăn đêm
cảm thấy tô phở ngon hơn và ấm áp lạ thường. Vì là phở gánh, phần đông
khách đem tô mua phở về nhà . Sau khi đẩy lại mấy que củi, rảnh tay, bác lại
cất tiếng rao mà giọng nghe không thay đổi
-PH...Ở!!!…
Có thêm khách rồi đây, ai đó
trong xóm đang tất tả cầm tô chạy ra vừa lúc bác đang sửa soạn gánh đi
nơi khác.
Thời gian tiếp tục trôi
qua . Chiếc đòn gánh cong cong, đen trùi trũi mãi kẽo kẹt trên vai bác.
Tuy vậy, với cuộc đời cần cù chịu khó bác vẫn kiên trì đếm bước theo
gánh phở thân yêu và là nguồn sống bao lâu nay của gia đình bác.
Đời người ai cũng có lúc thay đổi,
triêng hàng phở cũng thế. Những năm sau này phở gánh dần dần biến mất không còn
thấy nữa.
Có thể cũng là bác bán phở gánh năm trước nhưng nay bác đã
có được chiếc xe phở đàng hoàng. Chiếc Xe hình khối, phía dưới có những
bánh xe tự chế . Ngọn đèn giờ đã được thay bằng ngọn đèn đốt bằng khí đá
hẳn hoi. Hai bên thành xe bác còn cẩn thận móc thêm hai cái ghế đòn bằng gỗ có
chân cao cho khách ngồi. Giờ đây nồi súp được làm lớn hơn, chồng tô trên thành
xe trở nên cao hơn. Khách ăn đêm ngồi ăn phở vừa nghe tiếng lì- xì phát ra từ
ngọn đèn cacbua đó. Dù sau này xe phở có trang bị bằng đèn măng sông, tôi vẫn
thích ngọn đèn các- buya hơn tiếng đèn các-buya nghe thật vui tai. Dạo
này tiếng rao nghe to lắm. Người bán phở, hai tay chắp đằng sau hướng mặt vào
trong mấy đường kiệt cùng tiếng rao không hề thay đổi.
Có ngọn gió nào trong đêm làm trời khuya lạnh thêm
Trong sự yên tĩnh của góc ngoại ô quanh thành cổ, tôi vẫn còn nghe tiếng con
chim quốc hằng đêm từ bờ hồ bên kia kêu bầy vọng qua. Hương phở dịu dàng tỏa ra
bốn phía. Mùi thơm lan xa, quyến rũ khứu giác khiến ai cũng thèm ăn. Một ông
khách đi đâu trên phố về khuya, ngang xe phở ông chợt dừng lại. Dựng chiếc xe
đạp qua một bên đường, ông sà vào cái "quán khuya"
lưu động đó ăn một tô cho "ấm bụng" trước khi về nhà.
Tiếp tục trên đường về nhà, chiếc xe được đẩy
đến đầu con hẻm hay ngã ba đường cho đến khi nồi phở của bác không còn gì
nữa. Tuy vậy mớ xương xúp sau cùng bác cũng bán được cho một ông khách
"chuyên ưa men rượu" hay nhậu về đêm. Thế là bác bán phở chấm dứt một
ngày miệt mài, lam lũ./.
No comments:
Post a Comment