nhà văn Hoàng long Hải
Cụ Đốc Hy
Cụ Đốc Hy là Bác Sĩ Phan Văn Hy.
Đối với người dân Quảng Trị, không mấy khi người ta gọi Cụ bằng cả tên, vì người ta cho rằng gọi như thế là thiếu sự tôn kính. Thông thường, người ta gọi một cách thân mật là Cụ Đốc. Trong trường hợp cần thiết, để phân biệt với các Cụ Đốc khác như cụ Đốc Học hay Ông Đốc (hiệu trưởng trường Tiểu Học Quảng Trị - Ecole Primaire de Quangtri - người ta phiên âm chữ Directeur thành Ông Đốc) thì người ta mới gọi rõ là Cụ Đốc Hy. Một cách trịnh trọng, đôi khi người ta gọi Cụ là “Quan Đốc”.
Theo cách gọi của người xưa (trước 1945), tôi đặt tên cho bài viết nầy là “Cụ Đốc Hy” vừa để bày tỏ sự tôn kính mà cũng không xa cách lắm với vị bác sĩ tốt nghiệp rất sớm (1) của miền Trung Việt Nam. Xa cách với người dân, - theo tôi nghĩ -, vốn không phải là điều Cụ muốn.
Khi tôi lớn lên thì hình ảnh Cụ đập vào trí óc trẻ thơ của tôi là một ấn tượng khó quên.
Năm 1946, thời Việt Minh, trên đường đi ngang qua Quảng Trị, cụ Huỳnh Thúc Kháng có ghé thăm đồng bào ở Ty Thông Tin Tuyên Truyền Quảng Trị, chỗ khi còn Pháp thuộc là “xẹc” Tây, tôi thấy hình ảnh hai ông Cụ giống nhau như đúc (2). Tôi không nói khuôn mặt, tôi không nhớ rõ khuôn mặt Cụ Huỳnh Thúc Kháng như thế nào, nhưng cỡ người, dáng đi và cách ăn vận của hai ông giống nhau lắm: Tóc cắt ngắn, gọn ghẽ, áo quần trắng kiểu ta (áo dài). Khi đi, đầu hơi cúi, không nhìn xa, nên lưng có vẻ còng. Bước đi chậm và nhẹ, không rầm rập như con nhà võ. Ông chú tôi là môn đệ của cụ Huỳnh Thúc Kháng khi Cụ làm báo “Tiếng Dân” ở đường Hàng Bè Huế, một lần nói với tôi: “Cụ Huỳnh Thúc Kháng mà còn sống tới bây giờ (khoảng giữa thập niên 1950), ra đường dễ bị xe đụng. Khi đi, đầu cụ cúi xuống, nhìn xa không quá ba thước”. Mẹ tôi, em họ với Cụ Đốc thì nói: “Tướng đi Cụ Đốc là tướng cọp. Cụ tới sát bên lưng mà không nghe tiếng chưn. Khi đi đầu cũng cúi xuống, giống như cọp đi vậy.”
Quả thật hồi nhỏ tôi không quan sát kỹ Cụ Đốc, lý do rất dễ hiểu. Thấy ông, sợ muốn chết, thiếu đường muốn nhắm mắt lại cho khỏi thấy, đỡ sợ, làm sao nhìn kỹ ông Cụ. Tuy nhiên, có thể một năm tôi phải gặp Cụ đôi lần: Chẳng hạn như trên đường Cụ đi làm từ nhà đến bệnh viện Quảng Trị. Nhà của Cụ (nhà của chính phủ) nằm ngay ngã tư Trần Hưng Đạo (đường đi lên Ga), và Trình Minh Thế (Con đường từ cửa Hữu ra tới Bến Thuế). Từ trong cửa Hữu nhìn ra, nhà nằm phía tay trái, sau lưng nhà Cụ Đốc là nhà Thầy Thị Tri (Phạm Tri). Đối xứng bên kia ngã tư là Ty Tiểu Học Quảng Trị (Hồi đó gọi là Sở Học Chánh). Từ nhà đến bệnh viên, khoảng hai trăm thước nên cụ thường đi bộ, có khi đi xe tay (xe kéo), không thấy đi xe hơi (hồi đó gọi là xe điện). Nếu có khi nào đi chơi lang thang, gặp Cụ trên đường Cụ đi làm hay đi làm về, dĩ nhiên cả mấy anh em tôi trốn mất vì... sợ.
Mỗi năm nhà tôi có một cái kỵ (giỗ) khá lớn là giỗ ông nội tôi. Chỉ có giỗ đó thì cậu (cha) tôi mới mời Cụ Đốc sang ăn giỗ (Nhà tôi ở hồi đó - trước 1945- nằm trong khuôn viên Sở Học Chánh), từ nhà Cụ sang nhà tôi chỉ mấy chục bước, băng qua ngã tư là tới.
Có Cụ Đốc sang ăn giỗ là anh em tôi coi như gặp may. Sau khi cậu tôi rước Cụ vào bàn (Chỉ có một mình Cụ một bàn, cậu tôi và những người khách khác, thường là các thầy trợ, bạn của cậu tôi, không ai dám ngồi chung với Cụ vì sợ như thế là hỗn, Cụ có nói lắm họ mới dám ngồi). Trước hết cụ cầm dĩa bánh (bánh in, bánh thuẫn, bánh “ga-tô” - Tôi thích nhứt là những cái bánh làm bằng bột màu, bắt thành hình một cành hoa -) rồi gọi chúng tôi lại. Anh em tôi sắp hàng ngang để cụ phát bánh cho. Đứa nhỏ nhận phần trước, đứa lớn nhận phần sau. Được phần bánh, tôi mừng lắm. Con nhà nghèo, không được ăn bánh kẹo nhiều. Khi chị cả tôi mua về và cậu tôi đặt vào dĩa, chưng lên bàn thờ, tôi đã thấy thèm, thèm nhứt là được cầm cái bánh bột có màu bắt thành hình một cánh hoa. Trong ba anh em trai sắp hàng chờ quà (Không có Hùng “móm” vì lúc đó nó còn nhỏ lắm, không được sắp hàng chung với các anh), tôi nhỏ nhứt và thường được Cụ Đốc cho cái bánh đẹp nhứt, cái bánh tôi thích. Cũng có thể vì tham ăn, và được cái bánh ấy, lòng rất thỏa thuê nên tôi nhớ tới Cụ Đốc rất lâu, từ khi tôi còn thơ ấu.
Hình ảnh thứ hai của Cụ còn in đậm trong trí óc tôi là thời gian khi ở chiến khu “Bơơng” (nửa năm sau của năm 1947- Đinh Hợi) và chiến khu Chà-Cá (sau Tết Mậu Tý, nửa năm đầu của năm 1948). Cậu tôi cũng đi kháng chiến và ở tuốt phía trong rừng sâu, phía trên chiến khu Ba-Lòng. Mẹ tôi và các con ở “Bơơng” (tiếng địa phương của Bưng), chỗ đóng bệnh viện Quảng Trị.
Gia đình tôi ở trong một cái chòi lá nhỏ nằm sát chân núi, sống trong cảnh đói rách. Cụ Đốc và chị Bằng cùng Cô Dung (bà vợ thứ tư) cùng chị Khuê, chị Như, anh Cương, anh Luân (Cường), chị Tiên, anh Út (các con) ở trong một cái nhà tương đối không đến nỗi chật chội lắm, nằm sát bên bờ sông Thạch-Hãn. Dĩ nhiên, lúc đó cụ là Giám Đốc Bệnh Viên, lương thực được cung cấp tương đối đủ no, nhưng lâu lâu, một vài tuần một lần, vào buổi chiều, có khi trời rất lạnh, Cụ chống gậy xuống thăm mẹ tôi và chúng tôi.
Thấy Cụ tới gần chòi, mẹ tôi đã chạy ra chào, nên cụ khỏi vào chòi. Câu của cụ hỏi đầu tiên bao giờ cũng là: “O có đủ nuôi mấy đứa không? Mấy đứa có đói lắm không?” Dĩ nhiên là đói, rất đói, nhưng bao giờ mẹ tôi cũng nói cho qua để Cụ yên lòng.
Sau nầy lớn lên, tôi vẫn suy nghĩ đến sự việc đó hoài. Trước chiến tranh, cậu mẹ tôi không giàu có nhưng cũng no đủ, tất cả con cái đều được học hành đàng hoàng, thì mỗi năm, gặp ngày giỗ lớn, cậu tôi phải qua “thỉnh” (tiếng cậu tôi thường nói) thì Cụ Đốc mới qua ăn giỗ nhà tôi. Vậy mà khi ở chiến khu, nghèo đói rách rưới vô cùng, không cần “thỉnh”, vài tuần Cụ cũng xuống thăm hỏi một lần. Dù cụ không cho gì (có lẽ Cụ chẳng có gì dư thừa để mà cho), thế mà Cụ lại đến thăm hỏi hoài. Cái tình người, tình bà con của người xưa sao mà cao quí như thế, thật khó thấy trong đời. (Tôi sẽ trở lại câu chuyện Cụ ở chiến khu về sau).
Tiến sĩ Phan Văn Thính, con trai của Cụ, người từng làm Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở các nước bên Châu Âu, có lần kể cho tôi nghe:
- “Ở Quảng Trị, tôi đi rất nhiều nơi vì hồi còn nhỏ tôi theo ba tôi đi chữa bệnh cho bà con”.
Thời Cụ Đốc, không có những sáo ngữ như “Lương y như từ mẫu” nhưng với Cụ Đốc, nghề của Cụ là nghề giúp người, cứu người. Thành ra, hễ có ai kêu cứu thì xa xôi cách trở mấy, Cụ cũng đi cứu người cho thỏa cái lương tâm của mình. Có phương tiện di chuyển nào thì Cụ dùng phương tiện đó, không ngần ngại hay chê bai: Xe tay (xe kéo), xe đạp (đèo), ghe đò, đi bộ và kể cả người ta võng Cụ đi qua những đường làng xa xôi hiểm trở. Miễn làm sao cụ có thể tới được nơi người bệnh nằm chờ Cụ đến cứu. Thậm chí, đối với tù nhân ở Lao Bảo, Cụ vẫn thường tới với họ. Lao Bảo là một nhà tù lớn ở Quảng Trị, nằm gần đèo Lao Bảo trên biên giới Việt-Lào, phần nhiều giam tù chính trị (Những người hoạt động chống Pháp đô hộ. Họ ở ngoài hay trong các đảng phái nổi tiếng chống Pháp như Đại Việt, Việt Quốc, Cộng Sản, Duy Dân, v.v...) Đường từ Quảng Trị ra Đông Hà rồi ngược lên phía Tây mà đến Lao Bảo đã khó khăn, mà cảnh nhà tù thì rất “lạnh lùng”. Mô tả về nhà tù nầy, tôi nhớ mấy câu thơ sau đây của Tố Hữu, ông từng bị đi đày ở đó:
Đèo cao vút, vươn mình trong lau xám
Đá uy nghiêm trầm mặc dưới trời tro
Gió nói gì với rừng sâu u ám
Đường sao run tê tái cả hồn thơ
Xe dừng lại, tưởng ai xây tháp núi
.....
Mỗi năm Cụ Đốc lên Lao Bảo vài lần để thăm bệnh cho tù nhân. Có khi người tù đi làm khổ sai trong rừng sâu, Tây không cho tù về khám bệnh. Bước thấp bước cao, Cụ đi bộ lần theo những con đường núi vào tận chỗ làm của tù để khám bệnh và cho thuốc. Dĩ nhiên, không ít những người tù khóc khi được Cụ thăm hỏi. Có lần Cụ định đi tiểu, bước tới một gốc cây, thì mấy người tù la to lên xin Cụ đừng tiểu tiện ở đó. Tưởng gì, hỏi ra mới biết chỗ nầy, người mọi thường hay “bỏ thuốc” (thư) dễ bi trúng, hại tới tính mạng Cụ.
Những hy sinh đó, ít khi Cụ khoe với ai.
Vì cũng là người yêu nước (Xin đọc thơ của Cụ trong tập “Thơ Kỉnh Chỉ” để hiểu rõ hơn) nên Cụ rất thương những người bị tù vì “Tội Yêu Nước”. Sau khi Nhật đảo chánh Pháp (9 tháng 3/1945), Chính Phủ Trần Trọng Kim thành lập. Thủ Tướng mới cải cách chế độ cai trị, trước hết là ở các tỉnh gần Huế nên Quảng Trị không còn chức tuần vũ (Tỉnh Trưởng Tỉnh nhỏ) mà đặt chức Tỉnh Trưởng. Là người rất có uy tín, Thủ Tướng Trần Trọng Kim mời Cụ Đốc làm Tỉnh Trưởng Quảng Trị.
Khi làm Giám Đốc Bệnh Viện cũng như khi làm Tỉnh Trưởng, được cấp một số tù nhân làm “cỏ-vê”. Cụ Đốc biểu chọn những người tù chính trị. Đến nhà cụ mỗi ngày, những người tù nầy được ăn uống no đủ. Hồi ấy, nạn đói năm Ất Dậu hoành hành dữ lắm, miền Bắc chết đói hai triệu người. Quảng Trị cũng chịu ảnh hưởng nạn đói rất nặng. Dân chúng còn không có cơm mà ăn, nói chi tới tù. Thành ra, những người tù đến làm “cỏ-vê” ở nhà cụ được coi như gặp may, có cơm ăn no đủ mỗi ngày mà Cụ cũng không cho họ làm việc gì nặng nhọc cả.
Lê Duẫn cũng là người Quảng Trị, biết rõ Cụ thương dân và tù như thế nên rất kính trọng Cụ. Sau năm 1975, gặp một người con gái của Cụ Đốc, Lê Duẫn hỏi thăm Cụ Đốc và người rể lớn của Cụ là Kiến Trúc Sư Ngô Khắc Trâm.
Ông đến Xóm Chùa ở Tân Định để thăm ông kiến trúc sư, nhưng lúc ấy gia đình “Ông Huyện” - tiếng thường gọi ông kiến trúc sư Ngô Khắc Trâm, rể lớn của cụ Đốc, đã di tản rồi. Cụ Đốc lúc đó đã quá vãng.
Năm 1945, đến tuổi hưu (55 tuổi), Cụ xin nghỉ hưu, tính về căn nhà vườn của Cụ phía trước Cửa Tiền vui thú điền viên. Lúc bấy giờ Việt Minh đã cướp chính quyền, Tây trở lại xâm lược. Trung Đoàn 95, đơn vị chủ lực của Tỉnh Quảng Trị chuẩn bị kháng chiến chống Pháp, cần có bác sĩ chăm sóc thương bệnh binh. Họ mời Cụ tham gia, cụ không từ chối.
Khi mặt trận Quảng Trị bị vỡ đầu năm 1947, sau Tết Đinh Hợi, Tây từ Huế đánh ra, tất cả các cơ quan hành chánh, y tế, giáo dục, v.v... được lệnh rút ra Thanh-Hóa.
Cụ theo đơn vị quân y ra Vĩnh Linh, tới Hạ-Cờ (Ranh giới Quảng Trị - Quảng Bình) thì được tin Tây đổ bộ chiếm thị xã Đồng Hới. Đường ra Thanh Hóa bị kẹt, không đi được.
Bấy giờ bệnh viện có lệnh theo “đường thượng đạo” – (đường Trường Sơn) quay về Ba Lòng, lập chiến khu chống Pháp ở đó. Hôm Cụ cùng đơn vị quân y theo đường núi trở lại phía Nam, từ giã gia đình, Cụ bảo thôi cứ về tạm trú ở vùng quê, còn đối với Cụ, nếu sau nầy không biết tin tức gì, thì cứ lấy “ngày chia tay hôm nay” làm ngày giỗ cho Cụ.
Cậu tôi cũng theo Ty Giáo Dục ra phía Bắc, nhưng khi đường Đồng Hới bị kẹt, thì Ty Giáo Dục tuyên bố giải tán, mạnh ai nấy đi đâu thì đi. Mẹ tôi dẫn anh em chúng tôi từ làng Huỳnh Công, Vĩnh Linh, theo đường bờ biển qua Thủy Tú, Thủy Bạn, qua cửa Tùng (Tây đã chiếm) rồi về ở nhà em gái mẹ tôi ở An-Mỹ (Gio Linh). Nhà nằm gần Quốc Lộ 1, công chức cán bộ không kéo ra Bắc được, theo Quốc Lộ đi về Nam đông như người ta đi chợ. Mẹ tôi ngày nào cũng ngồi trước hiên nhà chờ, hy vọng cậu tôi sẽ về. Vậy rồi ông về thật, sau khi đơn vị giải tán. Ông đoán mẹ tôi tạm trú tại nhà người dì, ghé tìm và gặp gia đình ở đó. Thời gian nầy là lúc Cụ Đốc Hy đang cùng đơn vị quân y của Trung Đoàn 95 theo đường núi ngược về Ba-Lòng.
Khi gia đình tôi về tới Chợ Thuận, (tên cũ của Thuận Châu, Hóa Châu), tạm trú ở đó, thì có tin Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Quảng Trị gọi công chức, cán bộ tập trung trở lại trên chiến khu.
Cậu tôi bỏ gia đình lên chiến khu Ba-Lòng theo đơn vị đi trước. Mấy tháng sau, mẹ tôi dẫn anh chị em tôi lên chiến khu “Bơơng” thì bệnh viện đã đóng ở đó rồi. Hồi nầy, thương bệnh binh và dân chúng bị bệnh, bị thương đều đưa về đây điều trị. Người bệnh, người bị thương đông lắm. Y-tá phần đông là học sinh trai gái bỏ học theo kháng chiến nên không rành nghề. Bác sĩ thì duy nhất chỉ có một mình Cụ Đốc. Xem thế đủ biết, Cụ Đốc vất vã biết chừng nào.
Bấy giờ Cụ Đốc gặp nhiều điều rất đau lòng. Lợi dụng khi Tây từ Huế đánh ra, Việt Minh giết khoảng bảy chục người ở làng ngoại tôi, làng Nhan Biều, bên kia sông Thạch-Hãn, ngang với thị xã Quảng Trị, trong số không ít là bà con, thân nhân hay cháu của Cụ Đốc.
Làng ngoại tôi là làng trọng văn học, nên dù nghèo, vẫn cố gắng cho con ăn học. Cụ Đốc là người đậu bác sĩ đầu tiên của làng, của miền Trung nữa, nhiều năm sau thì cũng đông người đậu kỹ sư, luật sư, chí ít cũng Tú Tài hay Diplomé, Primaire. Những ai có đi học đều bị Việt Minh liệt vào “thành phần phản động” hết nên rất nhiều người bị Việt Minh tàn sát.
Thứ hai, là việc thầy Mật, y-tá bệnh viện, đảng viên đảng Cộng Sản. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, thầy Mật rời bệnh viện ra Thanh Hóa theo học một khóa chính trị. Khi bệnh viện đóng ở “Bơơng” thì thầy Mật từ Thanh-Hóa về.
Đi mấy tháng về, ông tự xưng ông là Bác Sĩ. Quan trọng là đảng viên Cộng Sản thì nắm hết mọi việc điều hành, chỉ huy. Cụ Đốc chỉ lo phần chuyên môn, cho thuốc trị bệnh, mổ xẻ... mà thôi.
Điều Cụ bất mãn là bấy giờ là bộ đội đánh nhau ở đồng bằng bị thương, phải ba bốn ngày sau, mới cáng, khiêng, đưa về tới bệnh viện thì vết thương đã thối rồi, nhiều trường hợp phải cưa chân, cưa tay, hay cưa xương sườn, mổ bụng để lấy mảnh đạn ra. Bệnh viện có thuốc mê, thuốc tê nhưng lệnh của thầy Mật cấm, không cho dùng, để dành đó cho cán bộ cao cấp khi họ cần tới.
Nhiều buổi chiều, (buổi chiều máy bay Tây không lên oanh tạc), Cụ Đốc phải đem bệnh nhân ra giữa sân cho sáng để cưa tay hay cưa chân cho thương binh. Cưa thì dùng cưa thợ mộc, lại không cho dùng thuốc mê hay thuốc tê nên thương binh đau đớn la khóc dữ dội. Ai cũng thấy tội nghiệp cho họ. Đó là lý do quan trọng nhất để Cụ Đốc thấy không thể “theo” kháng chiến được nữa, không thể “ở” với Cộng Sản được nữa.
Sau Tết, bệnh viện dời về Chà Cá, nằm phía tả ngạn sông Thạch Hãn. Thung lũng nầy rộng và thoáng hơn ở “Bơơng”, núi không cao lắm mà phần nhiều trọc, chỉ có lau sậy nên có bò rừng, voi, mà không phải cảnh “chim kêu vượn hú” và sương, hơi đá mù mịt mỗi buổi sáng như ở “Bơơng”. Bến sông lại rộng và thoáng. Nhà tôi cũng ở sát phía trong núi. Bây giờ là nhà, không phải chòi như khi ở “Bơơng”. Các con Cụ Đốc như chị Như, anh Cương, anh Luân, nhà ở phía bờ sông, ngày ngày chạy chơi chung với nhau, hoặc chúng tôi được chị Nhuận, y-tá, dạy học cho. Tôi và chị Như học lớp ba, các anh kia học lớp thấp hơn. Nhưng tới hè thì Tây lên lùng.
Tây tấn công hai mặt: Mặt Cùa (phía Cam Lộ/ hướng Bắc tiến vào) và từ hướng Đông, sông Thạch-Hãn đánh ngược lên. Bệnh viện di tản vào trong núi.
Hôm Tây đổ bộ lên bến sông, tôi chạy lạc, đứng trên đồi cao thấy rõ lắm. Quay ngó lui phía khe sau lưng thì thấy chị Như vác chiếu trên vai chạy vào núi.
Tôi bươn xuống đồi theo gia đình vào núp trong khe. Tây chiếm ngoài thung lũng, bên bờ sông. Hôm sau, họ theo đường mòn vào trong khe tìm bệnh viện.
Việt Minh rút lui hết, chẳng đánh chác gì. Khi Tây vào tới trong khe thì Cụ Đốc ra gặp họ. Ông Đội Trọng đi theo Tây làm thông ngôn.
Nhưng tiếng Tây thì dĩ nhiên Cụ Đốc giỏi hơn Ông Đội nầy nhiều. Ông Đội Trọng thưa với Cụ rằng ông Tú Phan (Thái Văn Phan - rể Cụ Đốc - con trai bác sĩ Thái Văn Du, đồng môn với Cụ Đốc) nhắn cụ về. Gia đình Cụ lúc đó đã hồi cư cả, ngoại trừ Cụ Đốc, cô Dung và mấy người con.
Biết cụ là bác sĩ, Tây rất kính trọng và yêu cầu Cụ về. Cụ đồng ý về nhưng với điều kiện là phải đem hết thương bệnh binh của Cụ về theo. Cụ không thể bỏ họ lại được. Thế là Tây biểu mọi người rời khe núi ra ngoài bờ sông, sẽ có ghe tàu đưa về thành phố, ai không đi được thì Tây sai lính của họ khiêng, cáng mà ra.
Tới chiều Tây mới đem hết thương bệnh binh ra tới bờ sông. Đêm hôm đó, chỉ có một mình anh Vân bỏ trốn vào rừng lại. Anh Vân quê tại thị xã Quảng Trị, theo Việt Minh làm trung đội trưởng Vệ Quốc Đoàn, bị đạn què một chân, vậy mà cũng trốn đi được. Sáng hôm sau, tất cả đều lên những chiếc đò do Tây trưng dụng, có tàu Tây kéo về thị xã. Nửa đường, Việt Minh chận bắn xối xả vào đoàn ghe tàu, may không ai việc gì.
Ở với người ác, không chống lại họ tức là theo họ. Cụ không thể theo người ác được nên Cụ phải về.
Về với ai?
Theo Tây, như Cộng Sản thường tuyên truyền để bôi lọ các phần tử Quốc Gia. Cụ là người từng ghét Tây, chống Tây nay không theo Việt Minh được, đành phải về!
Ai hiểu được tâm trạng Cụ?
Đó không chỉ là “thế kẹt” của riêng Cụ mà của tất cả những ai yêu nước, chống Pháp nhưng không theo kháng chiến được của một thời kỳ đất nước nhiễu nhương vậy!
Tới trưa thì ghe tàu về tới thị xã. Dân chúng đang buôn bán ở chợ, ở phố, nghe tin Cụ Đốc về, thiên hạ bỏ buôn bỏ bán chạy ra bến sông đón Cụ. Có người mừng quá, xông tới nắm tay Cụ mà khóc vì mừng, cảnh tượng thật cảm động. Những kỷ niệm đó, Cụ không quên.
Sau khi ở chiến khu về, dân chúng Quảng Trị bầu Cụ vào Hội Đồng Tỉnh. Sau đó, cụ tham gia chính phủ Quốc Gia, giữ chức Tổng Trưởng Bộ Cựu Chiến Binh và Xã Hội.
Tôi cò nhớ một kỷ niệm nhỏ về việc nầy. Năm 1953, khi còn là học sinh trường Trung Học Quảng Trị, một hôm tôi đang ở nhà thì có anh Hoàng Khảm đến chơi. Anh Hoàng Khảm lúc đó mang loon đại úy, và bạn học cùng khóa với người anh kế tôi. Anh Hoàng Khảm rủ tôi đi phố chơi và cho tôi biết, anh có nhiệm vụ chỉ huy đoàn xe thiết giáp hộ tống Cụ Đốc Hy, đang làm Tổng Trưởng, về thăm Quảng Trị. Hiện ông Tỉnh Trưởng đang tiếp Cụ ở trong dinh. Khi đi chơi về tôi ghé vào chỗ đoàn xe thiết giáp hộ tống Cụ Đốc trở lại Huế. Thấy Cụ, tôi cúi đầu chào. Cụ chào lại và dĩ nhiên, Cụ không biết tôi là ai. Tôi còn là thằng trẻ con.
Khoảng năm 1970, 71, Hội Đồng Châu Quảng Trị họp tại Saigon, mời Cụ làm Hội Trưởng Danh Dự. Bấy giờ Cụ đã già mà tướng mạo phương phi lắm. Tôi ngồi kế anh Nguyễn Trường, (3) người Lệ Môn, lúc đó dang làm Phó Tổng Giám Đốc Công Ty Đường Quảng Ngãi, phía sau lưng ghế của Cụ. Tôi không dám gặp Cụ để nhìn bà con nhưng tôi ngồi lắng nghe Cụ kể chuyện quê hương ngày trước, nhiều chuyện thật cảm động. Quả thật, như tôi vừa nói, Cụ không quên những kỷ niệm cũ, tình người dân Quảng Trị đối với Cụ cũng như những thương yêu mà Cụ dành cho bà con Quảng Trị, quê hương Cụ
Tôi cũng như những người cùng lứa tuổi, lớn lên sau năm 1945, không biết nhiều về Cụ Đốc Hy. Những gì tôi biết được về Cụ, một phần nghe mẹ tôi kể lại, cũng như từ bà con bên ngoại tôi, trong những lần kỵ giỗ, bà con nhắc lại Cụ với một giọng kính phục và tiếc nuối. Kính phục vì tấm lòng thương dân, thương người của Cụ thì đã đành, mà còn về mặt kiến thức, hiểu biết và sở học của Cụ nữa. Tiếc nuối vì Cụ đã lớn tuổi, đã về hưu, không còn giúp được bà con như khi Cụ còn làm việc. Chẳng hạn như bên ngoại tôi, nhiều người có được nghề y-tá, hộ sinh cũng là nhờ công ơn Cụ Đốc.
Khi Cụ về coi bệnh viện Quảng Trị, nhiều người được Cụ Đốc cho theo học các khóa do Cụ mở ra ở bệnh viện, sau ra làm y tá, làm việc cho bệnh viện. Trong những người đó, tôi nhớ rõ nhứt là cậu (tiếng địa phương gọi là cụ - anh hoặc em bên mẹ) cụ Nguyễn Xưng, cụ Phan Văn Ngọ. Trước 1945, trước cả khi máy bay Mỹ đánh bom sập cầu Ga Quảng Trị, “cụ” Ngọ, mỗi ngày từ bên làng ngoại tôi bên kia sông, đạp xe qua làm việc ở bệnh viện Quảng Trị. Chính mẹ tôi cũng vậy. Mẹ tôi và dì tôi được Cụ Đốc cho vào học nghề hộ sinh tại bệnh viện. Sau đó, mẹ tôi ra làm việc cho bệnh viện một thời gian dài. Rất nhiều bà ở Quảng Trị là “thân chủ” của mẹ tôi, kể cả vài người con gái lớn của Cụ Đốc.
Một lần đến thăm Tiến Sĩ Phan Văn Thính, tôi nói: “Gia đình em chịu ơn Cụ Đốc lớn lắm. Nhờ Cụ nên anh chị em trong nhà được mẹ cho học hành đàng hoàng!” Anh Thính không hiểu tôi nói gì, ngước mắt lên như có ý hỏi?
Mẹ tôi kể, khi mẹ tôi lớn lên thì Cụ Đốc về làm Giám Đốc Bệnh Viện Quảng Trị. Cụ Đốc kêu mẹ tôi và một người chị của bà vào học nghề hộ sinh và y-tá ở bệnh viện. Bà dì tôi sau đó theo chồng đi xa, bỏ nghề. Còn mẹ tôi học xong làm việc tại bệnh viện.
Được gần hai mươi năm thì thôi làm việc ở bệnh viện, mẹ tôi mở nhà hộ sinh riêng tại nhà, gần mấy chục năm. Nhờ có nghề nghiệp nên mẹ tôi nuôi đủ các con ăn học, vì cậu tôi là một công chức nhỏ, lương tiền không đủ.
Sau khi đi cải tạo về, tôi mới biết tin mẹ tôi qua đời và chôn ở Gia Định. Có mấy người con gái con Cụ Đốc đến phúng điếu mẹ tôi. Tôi nói với chị tôi, những người như mẹ tôi, nếu đất nước không có chiến tranh thì khi đám ma ở Quảng Trị, có lẽ đông người đi đưa lắm. Mấy chục năm làm nghề hộ sinh, mẹ tôi được rất nhiều thân chủ thương mến. Suy ra, đó chính là mẹ tôi cũng như anh em tôi, nhờ công ơn của Cụ Đốc vậy.
Đầu năm 1948, cậu tôi bị bệnh thương hàn, cơ quan cho đi bệnh viện. Nhờ Cụ Đốc chăm sóc, cậu tôi hết bệnh, trở lại cơ quan. Chỉ một tháng sau, cậu tôi lại bệnh, lại được đi bệnh viện.
Lần nầy, bệnh lần thứ hai, Cụ Đốc đành chịu bó tay. Cậu tôi qua đời ở “Bơơng”. Mẹ tôi nói Cụ Đốc chữa bệnh thương hàn nổi tiếng hay mà nay đành chịu là vì cậu tôi yếu quá, không qua nỗi. Vừa thiếu ăn lại vừa thiếu thuốc, nên dù là bác sĩ hay như Cụ Đốc, cũng không cứu cậu tôi được.
Khi còn làm việc tại bệnh viện, mỗi sáng Cụ Đốc đi “visit” (đi thăm bệnh nhân, tiếng gọi hồi đó), mẹ tôi thường đi theo Cụ. Cụ hỏi thăm bệnh nhân rất kỹ. Thậm chí những người bị ghẻ lở, nhất là ghẻ hờm, trông rất ghê sợ, Cụ cũng cúi sát đầu xuống xem xét, chẳng ngại gớm ghiếc hay hôi hám gì cả. Đối với bệnh nhân ở “Khu cách ly” (hồi đó gọi là “salle isolée”) như bệnh cùi, bệnh lao, v.v... Cụ cũng đến khám và cho thuốc hằng ngày, không một chút gì tỏ ra là sợ bị lây bệnh, mà những bệnh nầy rất hay lây. Hồi đó, các bệnh nầy thuộc trong “tứ chứng nan y”, thuốc men không nhiều và tốt như bây giờ.
Khoảng giữa thập niên 1960, khi đang còn dạy học ở Huế, một hôm ông Hoàng Trọng Thược đến trường gặp ông Hiệu Trưởng trường tôi, để giới thiệu một cuốn sưu tập thơ những người làm thơ nổi tiếng ở đất thần kinh thời tiền chiến do ông Hoàng Trọng Thược biên soạn. Vì là giáo sư dạy môn Văn Chương Việt Nam, tôi được ông Hiệu Trưởng gọi đến để cùng tiếp chuyện với ông Hoàng Trọng Thược. Trong khi hai người đang nói chuyện với nhau, tôi ngồi lật tập thơ xem qua, tìm tới mục “Hương Bình Thi Xã” là một hội thơ nổi tiếng hồi trước chiến tranh ở Huế. Thấy tên các vị trong “Hương Bình” như cụ Ưng Bình, Nguyễn Khoa Vi, lại có thêm Cụ Kỉnh Chỉ, tôi giật mình. Té ra Cụ Đốc có thơ ở đây mà tôi không biết gì cả và tôi lấy làm xấu hổ vì việc thiếu sót nầy.
Sau đó, tôi nhận một tập của Ông Hoàng Trọng Thược về đọc. Tôi nhớ lại khoảng năm 1950, anh cả tôi là Hồng Quang làm chủ nhiệm và chủ bút “Ý Dân” ở Huế, sau khi anh ấy bị Tây bắt và thủ tiêu, trong số đồ đạc anh ấy để lại tại tòa soạn ở số nhà 11 Trần Thúc Nhẫn, Huế (Nhà ông Viên Lang), có một số thơ của cụ Ưng Bình và cả Cụ Kỉnh Chỉ do anh tôi dùng để chuẩn bị đăng báo (hay đã đăng rồi, tôi không biết). Năm đó, tôi mới 12 tuổi, chẳng biết gì. Ông anh kế tôi, hơn tôi hai tuổi là một người chẳng có máu văn nghệ gì cả, nên tất cả những tài liệu nầy đều thất tán.
Theo các cậu tôi, (Có bà con xa gần với Cụ Đốc - như là anh em chú bác hay chú bác lại, v.v...), hồi nhỏ, Cụ Đốc học chữ Nho rất giỏi. Biết vậy nên tôi thắc mắc: Học chữ Nho rất giỏi, tại sao không theo con đường khoa cử xưa mà lại theo Tây Học? Cụ Đốc ra bác sĩ (Y sĩ Đông Dương) năm 1915, nhưng mãi tới năm 1916, năm cuối đời Duy Tân (1907-1916) triều đình Huế mới bải bỏ cách thi theo lệ xưa (thi Hương). Như vậy Cụ Đốc Hy theo Tây học thời gian nào?
Năm 1905, sau khi Nhật thắng Nga ở eo biển Đối-Mã, sĩ phu nước ta mới giật mình tỉnh mộng, thấy rằng nếu biết canh tân theo Âu Tây thì nước nhà cũng mau giàu mạnh như Minh Trị Thiên Hoàng đã canh tân Nhật Bản. Từ đó mới có Phong Trào Đông Du mà Cụ Phan Bội Châu là người có công lớn nhất trong phong trào nầy. Sau Phong Trào Đông Du thì có Phong Trào Duy-Tân do việc cổ vũ của Cụ Phan Bội Châu, Nguyễn Thành, v.v... ở Quảng Nam. Kỳ Ngoại Hầu Cường Để xuất dương. Phong Trào Duy-Tân có ảnh hưởng lớn bằng những thơ văn tuyên truyền của các Cụ. Câu hồi đó nhiều người thuộc lòng là:
“Phen nầy cắt tóc đi tu,
Tụng kinh Độc Lập ở chùa Duy-Tân”-
Cắt tóc ngắn theo kiểu của người Tây phương, không chừa búi tó nữa, và “câu kinh” bây giờ là Độc Lập của nước nhà. Ảnh hưởng nầy lớn đến nổi có tiếng vang tới triều đình nên khi thái tử Vĩnh San lên ngôi (1907), ông lấy niên hiệu là Duy-Tân.
Trước khi có Phong Trào Duy Tân, không mấy người theo Tây học, vì cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những ai học chữ Quốc Ngữ, chữ Tây đều bị dân chúng cho là theo Tây. Sự kiện nầy, tôi có viết trong bài “Cựu Học Sanh” mà câu chuyện đối đáp giữa tôi và Cụ Hường Ngô, người theo học ở trường Quốc Học niên khóa đầu tiên 1896-97 là một câu chuyện thật. Cụ Hường Ngô trong khi đang chờ được bổ ra làm quan thì được lệnh triều đình theo học chữ Quốc Ngữ và chữ Tây ở trường Quốc Học. Sợ dân chúng chê cười là theo Tây, nên các cụ phải dấu vở (tập) và bút chì trong chiếc áo đen dài.
Theo tôi phỏng đoán, Phong Trào Duy Tân có ảnh hưởng quan trọng đến việc chuyển hướng của Cụ Đốc từ Nho học chuyển qua Tây Học. Cụ Đốc là người yêu nước, chắc chắn Cụ không học chữ Quốc Ngữ và chữ Tây trước khi có Phong Trào Duy-Tân. Như vậy, chỉ trong khoảng thời gian 10 năm, cụ theo phong trào mới để rồi trở thành một bác sĩ thì quả là một bậc kỳ tài.
Quả thật Cụ có óc cách tân. Năm Cụ Đốc tốt nghiệp, người làng ngoại tôi cờ quạt đón rước, dĩ nhiên là còn hơn cả “Ông Nghè Vinh Qui”. Cụ không chịu ngồi võng nên thay vì “Võng anh đi trước, võng nàng theo sau” thì đám rước vinh qui của Cụ Đốc là một đoàn 10 chiếc xe tay (xe kéo), khác với người xưa nhiều. Xe kéo là loại xe nhập theo kiểu từ bên Tây, còn võng là “truyền thống” của người Việt ta.
Hồi thơ ấu, nhiều lần tôi được về ăn giỗ ở nhà Cụ Đốc. Nhà thì lớn nhưng kiểu xưa, ba gian hai chái. Tôi nhớ nhất là sau khi hạ heo xong, bọn con nít xin được cái bong bóng heo, thổi cho thật căng rồi đem ra đám ruộng trước nhà Cụ chia phe đá banh chơi. Anh em tôi dân thành phố, biết đá banh, nhưng đá không lại mấy anh nhà quê, vừa lớn con, vừa có sức khoẻ.
Suốt mấy năm chiến tranh, tôi không về làng ngoại, nay cảnh nhà ấy, Cụ Đốc tả lại như sau, hồi cụ về thăm nhà năm 1958:
Về Thăm Nhà Cũ ở Nhan Biều
Trên đường hương lộ xuống ô tô
Nhà cũ dè chừng dạo bước vô
Vách đổ, gạch vôi nằm lệch lạc
Thềm hư, cây cỏ mọc lô xô
Vườn hoang để đó hoa còn nở
Giếng bỏ lâu rồi nước đã khô
Lũ trẻ quên mình là chú bác
Hỏi nhau: Cụ ấy cụ già mô?
Đọc hai câu cuối, tôi nhớ hai câu cuối trong bài “Hồi Hương Ngẫu Thư” của Hạ Tri Chương:
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tá vấn khách tòng hà xứ lai.
Chỗ đám ruộng trước nhà cụ là nơi hồi nhỏ bọn trẻ chúng tôi chia nhau đá banh, kề bên cái sân rộng, nơi mẹ tôi kể hồi Cụ mới ra bác sĩ, một hôm Cụ về thăm làng, mang theo cái máy hát dĩa, loại 78 vòng, nhãn hiệu “Con chó” ngồi trước ống loa, có ghi câu: “La voie de son patron”.
Cụ cho dọn một cái bàn ngay giữa sân, phủ khăn bàn lên trên, rồi đặt máy hát lên đó, lên giây thiều, vặn dĩa hát cho bà con trong làng đến nghe chơi. Có người không tin cái máy hát có thể phát ra tiếng người, bèn đến lật khăn bàn xem có ai núp ở dưới gầm bàn mà hát không?
Đời thay đổi quá nhiều, quá nhanh, mới đầu thế kỷ 20, dân ta “lạc hậu” như thế, không tin cái máy hát quay tay có thể phát ra tiếng người thì nay văn minh quá chừng, nhưng cảnh cũ thì bây giờ đã quá đổi thay, buồn tẻ. Thấy cảnh dậu đổ bìm leo, vườn hoang, giếng cạn không ai khỏi xúc cảm, nhất là khi đọc những vần thơ trên của Cụ Đốc.
Đời sống tình cảm của Cụ khá mãnh liệt, nên Cụ thường xúc cảm và hay làm thơ. Số lượng thơ do Cụ làm ra khá nhiều, thất lạc cũng nhiều. Một phần là những bài thơ yêu nước, thời Pháp thuộc, không thể phổ biến công khai. Một phần nữa là vì chiến tranh, vì Việt Minh “tiêu thổ kháng chiến” và khi Cụ theo kháng chiến, lên chiến khu thì không thể nào còn. Các người con của Cụ, sưu tập lại được một số ít, in thành tập “Thơ Kỉnh Chỉ”. Tôi hân hạnh được biếu một tập. Đọc thơ Cụ, tôi không khỏi ngạc nhiên.
Lời thơ của Cụ không cầu kỳ, không nhiều điển tích. (dùng điển tích là một việc không thể thiếu của người xưa). Ôn Như Hầu ưa cầu kỳ, dùng rất nhiều điển tích nên thơ đọc nhiều khi khó hiểu. Truyện Kiều dùng ít điển tích hơn, nên dễ phổ biến sâu rộng). Lời thơ của Cụ mộc mạc, chân tình giống như thơ Nguyễn Khuyến, dễ đọc, dễ hiểu, tình cảm vừa dạt dào vừa sâu lắng.
Tôi ngạc nhiên khi thấy Cụ có tới ba bài thơ nói về biến cố Tết Mậu Thân ở Huế. Cảnh chiến tranh tàn phá và nhất là cảnh người bị giết hàng loạt, rất thảm thương làm Cụ xúc cảm không ít mới làm nhiều bài như thế.
Quả thật cụ là người rất đa tình, tài hoa và sính thơ. Đi tới đâu, bên Pháp, bên Ý hay miền Trung, miền Nam Việt Nam, thấy cảnh, thấy người, thấy việc nầy việc nọ, Cụ thường xúc cảm và viết đôi lời thơ.
Như tôi nói, lời thơ của Cụ giản dị, chân tình mà xúc động, làm người đọc thấy được lòng nhân ái mênh mông của một người vừa là nghệ sĩ, vừa là bác sĩ.
Tuy nhiên, tư tưởng Lão-Phật bàng bạc trong thơ Cụ, về cuộc đời sắc không, về hư danh, về đổi thay của thế thái nhân tình mà chúng ta thường thấy trong thơ cổ như thơ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Bỉnh Khiêm, v.v... Bên cạnh đó, có nhiều bài thơ, câu thơ không thiếu phần hóm hỉnh
Thông thường, khi già người ta thường muốn thoát tục, muốn xa lánh trần ai, muốn theo chân Từ Thức hoặc hai chàng Lưu-Nguyễn. Với Cụ, ngược lại, càng lớn tuổi, Cụ càng thêm thương yêu đồng bào, quê hương, đất nước:
Già đi càng nặng tình yêu nước
Sống mãi nhưng không chuyện báo đời
Ra Huế vào Nam còn lắm dịp
Lâu lâu mình lại gặp nhau chơi
(Họa bài thất thập Hoài Cảm
của Cụ Mai Viên Nguyễn Khoa Nghi-
“Thơ Kỉnh Chỉ”, trang 161)
Hơn nửa đời sau của Cụ, đất nước chiến tranh, chia cắt, dân tộc lầm than, nồi da xáo thịt là một mối u hoài lớn trong lòng Cụ.
Tôi là kẻ hậu sinh, không dám lạm bàn thơ của bậc tiền bối. Tuy nhiên, vốn là một người yêu thích thơ văn, lại “méo mó nghề nghiệp” vì từng làm giáo sư dạy môn văn chương suốt mười năm trước khi bỏ phấn đi cầm súng, lăn lộn trên nhiều chiến trường, lòng không khỏi xúc cảm khi thấy nỗi quan hoài của Cụ.
Cũng có khi mẹ tôi kể những chuyện vui về Cụ, đặc biệt Cụ có tới bốn bà vợ (đa thê là phong tục của người Việt ngày trước). Khi Cụ còn học trung học, gia đình cưới cho Cụ một bà người làng Đạo Đầu, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thường gọi là “Bà Quảng Trị”. Khi theo học Y Khoa ở Hà Nội, Cụ cưới Bà Thứ Hai, thuộc hạng “khuynh quốc khuynh thành” đất Hà Thành. Cụ bảo bà nầy do “Quan Thầy” cưới cho, không thể “từ chối” được. Bà thứ Ba là một công chúa, con vua Thành Thái, thường gọi là “Mệ 18”. Dĩ nhiên, vua gã cho thì Cụ phải “phụng mệnh”, mặc dù lúc ấy vua Thành Thái đã bị đi đày bên Châu Phi. Quả thật cũng khó ai từ chối chức “Phò Mã” mà ở Quảng Trị, trước Cụ chỉ có một người làm phò mã là người con của Quan Phụ Chánh Nguyễn Văn Tường.
Bà Thứ Tư là một bà “Nổi danh tài sắc” như tôi đã kể ở phần trên. Với Bà thứ Tư nầy, không nghe nói “ai ép gả” cho Cụ. Tuy nhiều vợ, gia đình cụ rất đầm ấm, hòa thuận mặc dù mấy bà ở chung một nhà. Cụ có rất đông con, 19 người, nhưng tất cả đều học hành giỏi giang, tới nơi tới chốn, nhiều người nối nghiệp y khoa của cha, hoặc cử nhân, kỹ sư hoặc trở thành một chuyên gia cao cấp và đặc biệt trong ngành ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa như Tiến Sĩ Phan Văn Thính.
Như nhiều người dân Quảng Trị khác, so với người đồng tuổi tôi, tôi có cơ may biết đôi chút về Cụ, nên với lòng ngưỡng mộ và tôn kính, tôi mạo muội viết đôi giòng thô thiển những gì tôi biết về Cụ. Có gì sơ xuất, kính mong đồng bào Quảng Trị cũng như các anh chị con cháu của Cụ lượng tình tha thứ.
Phụ lục:
Vịnh cảnh Huế
sau biến cố Mậu Thân
Cái họa chiến tranh ai nỡ gây
Cố đô khói lửa tóc tang đầy
Đền đài trong nội hư nhiều chỗ,
Nhà cửa ngoài thành sập cả giây
Hương Thủy thây trôi sông nhuộm máu
Ngự Bình bom dội núi tan cây
Mắt già chan chứa đôi giòng lệ
Khóc cảnh tang thương giữa Tết nầy
Họa bài xuân cảm của T. Thân
Ủa té ngày xuân đã trở về
Xuân nầy sao chẳng giống xuân tê (1)
Non sông mờ mịt ngoài ngàn dặm
Khói lửa lung tung cả bốn bề
Thời loạn người càng lo việc nước
Đường xa ai chẳng nặng tình quê
Hoa xuân không biết đời đau khổ
Trổ tía đơm bông rộn rịp ghê
(1) “Tê” là tiếng miền Trung, nghĩa là “kia”
Họa thơ Mậu Thân
của Trần Văn Thạnh
Cố đô đâu phải chốn sa trường
Sao lửa binh đầy giữa đế hương
Nghi ngút thành sầu mây núi Ngự
Tưng bừng sóng hận nước sông Hương
Tóc tang chồng chất đều trăm họ
Nhà cửa tiêu điều cả bốn phương
Cảnh Tết Mậu Thân khi nhớ lại
Mắt già khôn ngớt lệ tang thương
Chú thích:
(1)-Người miền Trung, tốt nghiệp bác sĩ khóa đầu tiên là cụ Ưng Thông (năm 1907).
(2)-Cụ Đốc Hy tốt nghiệp năm 1915. Cùng khóa với cụ có Bác sĩ Thái Văn Du (Cùng quê Quảng Trị), Bác sĩ Phan Văn Hy (2), trùng tên và Bác sĩ Lê Văn Kỷ, quê Nghệ An. (theo tài liệu của Bác sĩ Nguyễn Nguyên - trích trong tập Section des Medecins Indochinois - Bà Ngô Khắc Trâm - con gái Cụ Đốc Hy và các con của bà cho tác giả biết)
(3)-Có lẽ là thời trang thời bấy giờ.
(4) Thời gian nầy Anh Nguyễn Trường làm Phó Tổng Giám Đốc Công Ty Đường Quảng Ngãi.
Lao Bảo
Đèo cao vút vươn mình trong lau xám
Đá uy nghiêm trầm mặc dưới trời tro
Gió nói gì với rừng sâu u ám
Đường sao run, tê tái cả hồn thơ!
Xe dừng lại! Tường ai xây tháp núi?
Một thành trì đổ nát những ngày xưa
Của một giống dân vùi trong máu bụi
Nay điêu tàn, khối đá đứng chơ vơ?
Vũng nước đọng ven bờ hoen sắc gạch
Đàn muỗi rừng huyên náo vù vù bay
Chao hiu quạnh! Trên vùng khô đỏ chạch
Không vết chân, không một dấu đường cày.
Là Lao Bảo, chốn này đây, Lao Bảo
Tên đun sôi sùng sục tủy xương tàn
Là nơi đây, nấm mồ bao khối não
Là nơi đây, huyết ứ dưới lời than!
Là nơi đây, pháp trường thân chiến sĩ
Nát bầm da quằn quại là nơi đây
Roi đế quốc, báng súng trường quất xé
Thịt hy sinh của những kiếp đi đầy!
Nhắm mí mắt: chờn vờn trong đêm tối
Nhánh xương khô khua rợn cả lòng tôi
Tim không khóc, nhưng sôi lên, dữ dội
Sóng máu hờn nào uất khí tanh hôi.
Hỡi chiến sĩ rữa tan trong mả loạn
Hãy về đây trong đáy giếng hồn tôi!
Hãy về đây những ảnh hình ly tán
Nấu sôi niềm oán hận của muôn đời
Cho tôi hưởng tinh thần hăng chiến đấu
Cho da tôi dày dạn với ngày mai
Cho tôi hiến đến cuối cùng suối máu
Để nhuộm hồng bao cảnh xám bi ai!
(6-1938)
No comments:
Post a Comment