NĂM MƯƠI
NĂM LƯU DÂN QUẢNG TRỊ
HÔM NAY đúng năm mươi năm kỷ niệm cho lưu dân Quảng trị
phiêu bạt vào nam theo chương trình KHẨN HOANG LẬP ẤP 1973 - 2023.
Năm mươi năm rồi hay nói đúng ra là
đúng nửa thế kỷ kể từ ngày bà con chiến nạn tạm dung thân quanh thành phố Đà
Nẵng nếu kể ra thì còn khá nhiều kẻ nhớ người quên. Ôi chuyện nửa thế kỷ qua,
người QT cất bước phiêu bồng trôi dạt vào nam phương tìm đất sống. Chuyện ra đi
cũng lắm đoạn trường, nhưng nay có thể kẻ ra đi về trời miên viễn khá
nhiều, lớp lớn lên sau thì chỉ còn một vài kỷ niệm mờ nhạt của một chặng đường
bồng bế nhau qua đoạn Cầu Dài và non hai năm trời tạm dụng tại Đà Nẵng.
Người viết cũng từng viết về hồi ký
này cách đây mười năm nay cũng xin nhắc lại khi dấu ấn chia phôi từ ngày giã từ
Đà Nẵng theo chương trình Khẩn Hoang Lập Ấp của một chính phủ nay cũng không
còn.
chợ
tạm cư những ngày gian khổ với cái chợ mái tranh vách lá cho đồng bào QT 1973
tại khu Tạm Cư Hòa Khánh Đà Nẵng
Đã năm thập niên ròng rã, có ai còn nhớ chăng dòng
người chiến nạn Quảng trị
tạm lưu trú tại Đà Nẵng rồi cũng phải lưu luyến chia tay vùng đất tạm dung và
nhiều tình cảm như Non Nước, Hòa Khánh, Hòa Cầm ôi những trại tạm cư biết bao
kỷ niệm vui buồn. Ngót nghét gần hai năm, ăn ở tạm bợ học hành cũng tạm bợ.
Những trợ cấp từ những bao gạo, những ổ bánh mì cùng bao nhiêu thứ khác. Lưu
dân Quảng trị lại phải chia tay nhau, một nửa ra lại Quảng trị những vùng nào
ra được như Triệu phong, Hải lăng. Nhưng phân nửa chọn con đường KHẨN HOANG LẬP
ÂP do nhà cửa, đất đai ngoài quê không còn hay chẳng còn gì hứa hẹn.
Năm 1973 đồng bào chiến nạn QT tại Đà Nẵng được chính phủ
VNCH cấp phương tiện chuẩn bị đồ đạc vào nam được biết 4 gia đình được đi cùng
một chuyến xe tải vào nam (Bình Tuy).
Một lần nữa lại ra đi. Dấu ấn 1973 xa dần theo gót chân
người dân phiêu bạt. Giã từ và cám ơn Đà Nẵng một tình cảm che chở cho người
dân mất đất. Chẳng ai quên được những tháng những ngày, nôn nao nơi vùng đất
đầu lạ sau quen rồi cùng nồng ấm với nhau cùng một thứ tình nghĩa đồng bào qua
hai năm xem nhau chẳng khác chi ruột thịt.
Chúng ta nhớ làm sao mấy chiếc quán cà phê nho nhỏ cùng vài
chiếc bàn ọp ẹp dưới mái là tạm thời. Nỗi buồn xa xứ bên bao giọt cà phê rơi
rơi. Ly cà phê đắng đơn sơ như đang chia sớt tâm tình cùng nhiều đứa con trai
QT lỡ vận đang đợi ngày tòng quân nhập ngũ. Chuyện những người thất lạc người
thân. Họ tuy chạy được vào ĐÀ Nẵng nhưng hàng ngày đốt điếu thuốc bên ly cà
phê; tâm trạng chơi vơi trong niềm nhung nhớ nôn nao bởi người thân mất
tích...
Chi nhánh Nguyễn Hoàng, chi nhánh BỒ Đề, Hiền Lương Nghĩa
Thục... không bao giờ xao lãng nhiệm vụ giáo dục cho con em QT lưu lạc
vào đây.
GV Trần túy Huệ (bà xã người viết
sau này) tại Tạm Cư Hòa Khánh 1973 đang thăm biển Đà Nẵng với học trò Hiên
Lương Nghĩa Thục
Vợ tôi hồi đó mới xong Tú Tài Hai, lúc này còn trẻ, độc thân, sau này kể chuyện
lại với chồng tức là tôi rằng, may mắn được thầy Minh Lương tuyển vào dạy tại
chi nhánh Bồ Đề tại trại tạm cư Hòa Khánh. Mới mười chín tuổi đời lại mang cái
chức CÔ thì nàng làm sao khỏi ngỡ ngàng, lúng túng. Dân tình chạy nạn có được
một việc như thế là may rồi nên vợ tôi phải cố gắng, mặc dầu hàng ngày phải tập
tành bạo dạn với các thầy "ngắm nghé" - các lứa học trò
tuổi ngang bằng hay ít hơn vài tuổi thôi!
Cô giáo Huệ - chi nhánh BỒ Đề Hòa Khánh - vào năm này là đề
tài cho các thầy "thách đố" nhau , là "mục tiêu" cho các
lứa học trò "nhất quỷ nhì ma" trêu chọc , làm cô giáo trẻ
phải bước thấp bước cao, lính qua lính quýnh những ngày tập sự. Vợ tôi
không bao giờ quên kỷ niệm rằng : Có lần quýnh quá vợ tôi bị vướng quấn té, lật
cả móng chân chảy máu và cũng là một
"dịp may " cho các thầy thi nhau làm "y tá "!
cô giáo và học trò tại tạm cư
Hòa Khánh Đà Nẵng 1973
lớp học sinh này nay đã trên 60
tuổi
Thế mà thời gian dạy cho BỒ Đề qua nhanh như gió thoảng. Những buổi dã
ngoại đi chơi biển với học trò. Cô- trò như chị như em . Không khí
trường như vui hẳn lên, đầy sức sống cho các thầy "hăng hái thi nhau
" dạy học từ khi có bóng dáng cô giáo Huệ trên bục giảng của
trường . Lạ một điều cũng từ ngày đó các thầy thi nhau ăn bận chỉnh tề
"oai ra phết”!
Rồi trường BỒ Đề cũng phải chia tay nhau theo chương
trình di dân 1973. Cô trò chia tay, bằng hữu chia tay , và những gia đình cũng
phải chia tay ra đi . NGười vào Nam, kẻ ra lại hướng bắc tức là trở về lại
QT.
hình- Lưu Dân QT năm 1973 theo
chương trình KHẨN HOANG LẬP ẤP CỦA QUỐC VỤ KHANH PHAN QUANG ĐÁN VÀO ĐÔNG NHẤT
TẠI ĐỘNG ĐỀN BÌNH TUY
ĐÃ 50 NĂM NỬA THẾ KỶ TRÔI QUA LỚP CHA MẸ CHÚNG TA NAY ĐÃ RA
ĐI THẬT XA CÒN LẠI LỚP CHÚNG TA NHỮNG NGƯỜI Ở LẠI NHỮNG AI LÀ LƯU DÂN QT KHÓ
QUÊN DẤU ẤN NHỮNG NGÀY KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT ĐỘNG ĐỀN HAY CÁC KHU RỪNG LÁ BÌNH TUY
hay lớp người QT ngoài Cam Ranh THEO Linh Mục ÁI VÀO tận CAM RANH
Theo Hồi Ký của một công chức, ông Hoàng Thân Vinh có làm việc tại Bình Tuy,
ông viết như sau ...
Bình Tuy trước năm 1975 là một tỉnh
rất nhỏ nằm về phía Bắc của Vùng 3 Chiến Thuật, tuy là tỉnh nhỏ nhưng không
phải dễ ở! Bằng chứng chỉ trong có 4 năm (1971 1975) thay đổi tới 6 vị tỉnh
trưởng, trong đó 3 vị là đại tá và 3 vị là trung tá. Ngoài ra trong mùa hè đỏ
lửa 1972, khoảng 20 ngàn đồng bào nạn nhân chiến cuộc Quảng Trị (gồm 3 quận Gio
Linh, Cam Lộ và Ðông Hà) đã vào định cư ở Bình Tuy (1972 1975), Hiện nay tại
Song Thành Minnesota có rất nhiều gia đình quê quán Bình Tuy hay Quảng Trị thế
hệ thứ nhất đến thế hệ thứ 3 sinh sống & làm việc ở Minnesota.
Tháng 6, 2012
Hoàng
Thân Vinh
...Ðồng
bào Quảng Trị định cư được cấp tiền nuôi ăn ít nhất là 6 tháng đến 1 năm, tính
theo đơn vị gia đình được cấp đất thổ cư (đơn vị 200 m2), cấp tiền làm nhà, cấp
đất canh tác mỗi gia đình chừng 1/2 mẫu (5,000m2) đất đã được khai quang sẵn để
dễ dàng cho đồng bào canh tác (ở khu Ðông Hà đất canh tác do nhà thầu tư nhân
khai quang, giá khai quang đâu gần 100 ngàn đồng/mẫu, còn Khu Ðồng Ðền do đơn
vị Công Binh khai quang,( công binh này đóng tại dốc Tân Sơn ) có lẽ Phủ
QVK chỉ trả tiền xăng nhớt.). Ðịnh cư với nhiều đồng bào là 1 công việc to lớn,
nên Phủ QVK/PQÐ có lập riêng 1 văn phòng đại diện ở tỉnh... (trích báo Người
Việt)
***
Bình Tuy, một thời là mật khu
hay rừng thiêng huyền bí. Nào là những cánh rừng san sát - ken dày cây gỗ quý -
di dân QT bắt đầu vào đây khai phá, lập nên nương rẫy và những khu định cư.
Những khu định cư người di dân QT cũng đặt cho những cái tên từ quê hương như
quân Hàm tân có xã Tân Hà do đa số người Đông hà. Tại xã Sơn Mỹ có vùng Hà Mỹ
Lễ, gọi tắt cho dân các xã của quân Gio Linh trước đây là Gio Hà, Gio Mỹ và Gio
Lễ. Tại vùng Động Đền có thôn Cam Bình, Cam Mỹ để nhớ quận Cam Lộ...
Cuộc thế đổi dời thêm một lần
nữa , sau 1975 chỉ hai năm lưu dân QT tại vùng đất mới Bình Tuy lại phải đổi
thay cuộc sống di cư thêm một lần nữa. Than củi ruộng vườn nhưng đất hẹp người
đông người QT lại phải chia tay nhau tại đây . Sau 1977 kẻ vào tận các
tỉnh tận cùng miền nam, Bạc Liêu, Rạch giá. Gần hơn sau này thì đi
làm phu nông trường cao su những vùng đất đỏ Long Khánh Biên Hòa.
Khai phá đất hoang thành ruộng lúa ở mấy vùng rẫy ruộng thuộc quận Tánh Linh -
Hoài Đức sau nay đổi là Đức Linh. Nhiều thế hệ sinh sau 1975 tại quê
hương thứ hai nói đặc giọng QT quê miềng (mình), mới lạ.
Chúng ta cứ thử một chuyến du hành
từ Bình Tuy vào tận Long Khánh đi đâu cũng nghe giọng nói Quảng trị, và ngay cả
những nét mặt bộ điệu hỏi ra cũng là đồng huơng QT cả thôi.
Năm thập niên dòng đời trôi chảy,
bao lớp người chạy giặc năm xưa, vào Đà Nẵng rồi phiêu bạt đó đây. Còn ai nhớ
lại những người lính hay công chức ngày đó cùng đi theo dân để phục vụ. Rồi
những cô những cậu học trò Nguyễn Hoàng, Bồ Đề trại tỵ nạn Hòa long, Hòa Khánh
, Hòa CẦm, Non Nước vv giờ chắc đã lứa tuổi lục tuần, thất tuần. Chuyện
của bốn mươi năm mới đó, chỉ chớp mắt ngày ra đi đó lại là chuyện của năm mươi
năm hay nửa thế kỷ. Năm mươi năm đi từ thế kỷ 20 và vươn tới thế kỷ hai mươi
mốt; ôi năm thập kỷ trôi nhanh, bao mái đầu xanh này đà nhuộm bạc. Đôi khi
chúng ta còn diễm phúc ngồi mà nhắc lại chuyện ngày xưa. Hơn ai hết là chuyện
nhớ thương bao người QT chắc hẳn phải ngậm ngùi, vương vấn cùng nợ thời gian để
thương hay tiếc nhớ bao kỷ niệm ngập tràn. Ôi thời gian nghiệt ngã cuộc đổi đời mà đau lòng nhân
thế. Chỉ chớp mắt thôi mà năm thập niên trôi qua vùn vụt. Lồng lộng giữa trời
cao mây nước, bao cánh chim bay qua rặng núi ngày qua ngày nối bóng ác tà.
Rồi đến lúc chiều nghiêng bóng xế, bao kẻ ra đi nay đã thành thiên cổ.
Năm mươi năm chúng ta ngồi vọng cố
hương, nhớ bao biến cố thăng trầm mà ngỡ nằm mơ khi nửa thế kỷ qua đi chẳng
khác chi huyền sử vì đời này sao lắm chuyện bể dâu ./.
Đinh trọng Phúc tái đăng
No comments:
Post a Comment