Thursday, January 8, 2026

NHỚ THÀNH XƯA và PHƯỜNG ĐỆ TỨ


NHỚ CỔ THÀNH và PHƯỜNG ĐỆ TỨ NĂM XƯA

Đôi lời thưa trước với bạn đọc

CỔ THÀNH hay THÀNH CỔ 


    Trước 1975 danh từ CỔ THÀNH từng được gọi cho tên Thành Quảng trị một kiến trúc có từ thời Nhà Nguyễn. 

Theo cuốn Từ Điển Nhà Nguyễn của nhà Biên Khảo Võ Hương An,

Thành Quảng Trị (Cổ Thành) đầu đời Gia Long thành là lỵ sở dinh Quảng Trị, đặt tại Phường Tiền Kiên Huyện Thuận Xương. Qua năm Gia Long thứ 8 (1809) mới dời về xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823) chỉ mới đắp bằng đất,  qua năm Minh Mạng thứ 18 (1837) mới xây gạch. Thành Quảng Trị có chu vi 481 trương  6 thước (1926.40 mét), cao 1 trượng (4m), dày 3 trượng (12m), có 4 cửa, chung quanh có hào rộng 4 trượng 6 thước (18.40m), sâu 8 thước (2.40m). Thành này hoàn toàn bị phá trong chiến trận năm 1972. (trích)

Ngoài ra chúng ta nên phân biệt Cổ Thành với Làng  Cổ Thành (hình dưới).

Trước 1972 người thành phố QT gọi tắt Cổ Thành là "THÀNH". Nói "Thành" nhưng ai cũng hiểu đó là Cổ Thành QT

vd:

-Khi hôm có pháo kích trong Thành 

-Ba hắn làm lính trong Thành 

-Đi vô Cửa Hữu, Cổng Thành Đinh công Tráng

nhân đây người viết cũng xin nhắc lại ngày xưa ngay từ lúc mới ra đời chữ "Thôn Đệ Tứ, Đệ Tam" đã có sau thời Đệ Nhị CH cùng thời với phong trào "Ấp Tân Sinh" lại có tên là Phường ví dụ Phường Đệ Nhất, P Đệ Tứ Thị xã QT...nên có cái chức là Phường trưởng, Ấp Trưởng .Cùng thời phong trào Xây Dựng Nông Thôn đặc biệt được coi trọng.

bản đồ của Pháp Thành Quảng Trị năm 1883 tỷ lệ xích 1/4000 có ghi chú từng nơi đánh dấu Alphabet chữ in hoa (nguồn: Võ Hương An. Tự Điển Nhà Nguyễn)
      


Thời gian qua mau, ôi sương gió phôi pha xóa dần biết kỷ niệm của bao kẻ tha hương biệt xứ. Nhớ lắm một Cổ Thành rêu phong che kín, di tích Quảng Trị nay chỉ còn đọng lại trong ký ức  bao người con Quảng Trị. Di tích đó mờ xa đi theo thời gian trôi mãi theo thời gian chôn vùi dĩ vãng. Thân phận ly hương chẳng khác chi con thuyền không bến, thuyền trôi mãi chẳng hẹn nơi về. 

Đêm trường tỉnh giấc có ai đó nghe "tiếng xưa" như vọng lại từ tận đáy lòng. Quê hương còn đâu trở lại, hẹn đến bao giờ? Dĩ vãng nay chỉ còn trong tâm thức như bao âm vang từ quá khứ vọng về một thuở hồn quê.

Bài này tác giả từng đăng lại nhiều lần lắm rồi Như là tấm lòng gửi về thành phố xa xưa trong mờ phai dĩ vãng, như là tiếng đàn đánh động vào tâm hồn bao kẻ ra đi nay đà quên lãng trong bụi hồng cuộc sống phồn vinh 


-0-0-0-

 


     Ngược thời gian trở về quá khứ, tôi nhớ về Cổ Thành xa xưa Quảng trị trong mờ nhạt khói sưong, Cổ Thành như ẩn như hiện với những gì còn sót lại trong ký ức một ngưòi xa xứ.

   
Đối với tôi, hình ảnh cái thành xa xưa đó trong những sáng mù sương chẳng khác gì một bức tranh xưa trong Việt Sử hay những truyện cổ tích mà tôi thường đọc.
Cửa Hậu trong làn sương sớm qua trí tưởng tưởng của tuổi thơ - tôi từng mơ màng trong cổng thành uy nghiêm kia có những vị "tướng trời cùng muôn ngàn tinh binh gươm giáo đầy trời". Trong thinh không vắng vẻ của ban mai, mặt hồ quanh thành bồng bềnh một màu trắng đục của màn sương như những đám mây làm trí tưởng tưởng của tôi xa thêm- cái cổng thành như ở trên mây, hay cái cổng "THIÊN ĐÌNH" trong truyện tranh tôi hay đọc. Cho đến khi vầng dương lên cao, ánh nắng mai đã phá tan màn sương đục thì thành cổ mới trở về hiện thực của nó.
  Xóm tôi ở đối diện với cổng thành Cửa Hậu. Cửa Hậu còn gọi là cửa Lao Xá vì Pháp xưa kia dùng giam giữ tù chính trị. Sau này Cửa Lao xá cũng như nguyên tên cũng dùng để giam tù. Cửa Lao xá vẫn mở cho đến năm 1967 thì bị lấp kín sau khi phía Mặt Trận đánh và giải thoát khoảng một trăm rưỡi người tù. Tôi nhớ cái đêm hôm đó tôi nằm trốn dưới gầm giường mà người run cầm cập. Bên ngoài, tức là con đường Ngự - con đường kiệt đâm chạy thẳng tắp về đồng An Tiêm- gần sáng có tiếng chân người chạy rầm rập, xôn xao. Sáng mới biết đó là chuyện cửa Lao xá bị phá và phía bên kia đã vào được trong thành để giải thoát tù chính trị. Ông Tỉnh Đông chạy theo đám người này. Nhưng không ai biết ông là ông Tỉnh Đông cả. Trời hơi tờ mờ, ông  một mình trốn chạy lui. Ông ngồi trước hiên nhà ngoại tôi, tức là nhà tôi ở. Ông tỉnh Đông lúc này bận bộ đồ tù màu đen, trong nhà ngoại tôi không biết là ai nên cả nhà đều rất sợ. Sau này trong nhà mới nghe nói là ông. Trong vụ đánh Lao Xá vào năm 1967, phía họ giải thoát được đâu hơn trăm người tù nhưng phía họ cũng bị tử trận hơn mười người.
2022 bạn Nguyễn Văn Bốn người P Đệ Tứ xưa về thăm Cửa Hậu nay chỉ còn gạch đá rêu phong 

   Nhớ về Cửa Hậu tức là tôi phải kể cái mốc thời gian trước 1967 vì khi này tôi nhớ đến cái cổng thành tôi hay vô chơi. Tụi con nít như tôi ở xóm Cửa Hậu hay vô được vì mấy chú Bảo An gác thành cũng không e ngại gì lũ nhỏ này chú đã quen mặt. Thế là tụi tôi vào được thành cùng với lũ bạn con lính trong thành leo lên Thành Cổ chơi. mới biết bức tường thành dày ơi là dày! thảo nào đất ngoài thành bị mất đi tạo thành cái hồ to lớn bao quanh. Bức tường thành, như một con đê có con đường nghiêng nghiêng cho bọn tôi leo lên chơi. Ngó ra xóm Hậu, hướng về đồng An Tiêm có bờ tre cong cong mờ nhạt. bọn tôi khoan khoái biết mấy. Có đụn cát cao ai đổ sát chân thành phía ngoài chúng tôi thi nhau đứng trên thành dám liều mình thi gan nhảy xuống. Xong, bọn chúng tôi lại chạy vào thành leo lên nhảy xuống tiếp... Mấy chú lính Bảo An  hàng ngày gác thành đứng ngó theo chỉ cười mấy chú chẳng la rầy con nít trong xóm. Ngày nào mấy chú cũng ra xóm chơi hay mua vài món đồ vặt nên chúng tôi quen mặt.
    Từ cửa thành theo cái cầu gạch đi ra gặp đường Lê Văn Duyệt, có hai cái chái nhà nghỉ tạm, lợp tôn cho người đi thăm tù. Ngày thăm tù sẽ có nhiều đợt người tù có lính dẫn ra gặp gia đình.

 

Những giỏ đồ ăn, những miếng lá chuối đựng quà, những mo cơm, những lời nói năng tâm sự. Hình ảnh lưu luyến của người nhà từ dưới làng quê, những miếng cơm mang nặng hơi hám ruộng đồng và những giây phút ngắn ngủi. Rồi người tù chính trị phải chia tay vào lại trong thành để người tù khác ra...

 Khi cái cổng sắt khép lại, bên trong là một thế giới khác hẳn với bên ngoài. Phía ngoài là xóm Cửa Hậu thân thương muôn thuở của chúng tôi cùng những ngày tuổi thơ  vui chơi và hồn nhiên ăn học. 

Nhớ làm sao, có những đêm lũ nhỏ chơi đá lon ngoài đường Lê Văn Duyệt, tai tôi nghe rõ tiếng kẻng của các chú lính canh đổi phiên gác đâu đó quanh thành. Đêm về khuya, ai cũng nghe rõ tiếng mấy con chim cuốc quanh hồ thành kêu mãi  không ngưng. Tiếng chim kêu đêm nghe buồn làm sao. Trong không gian vắng lặng, nhưng xa xa vẫn còn tiếng rao bánh mỳ vẳng lại. Mùa hè, những đêm trăng thanh gió mát con đường ngoài thành cổ bỗng vui hơn nhờ vào mấy gánh chè hay thỉnh thoảng có một xe phở đi bán dạo trong đêm. 



 KHÔNG ẢNH  Cổ Thành Quảng Trị

CỔNG LAO XÁ hay là CỬA HẬU CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ năm 1967 đã bị đóng lấp do bị tấn công 
       và bên phải hình ảnh CỬA HẬU  hiện nay - 2012

bạn cùng xóm Nguyễn v Bốn từ SG về thăm xóm cũ tháng 10 - 2022 


bạn tôi đứng ngay trước con đường Ngự năm xưa nay đà bị bít lối 
   
      hơn 5 năm trước có hai anh em Nguyễn thanh Điền (nay vừa mất) và Nguyễn thi thanh Tâm ra thăm Cửa Hậu

đồng huơng P Đệ Tứ gặp nhau tại hai ngoai  (6/9/2015)Đứng trái sang: Lê Vang - Đinh trọng Phúc , Đỗ Trung - Lê Văn- + 2 người đẹp năm xưa Trí Bưu Góc Bầu

*
Ban ngày cửa thành Lao xá (hay Cửa Hậu) được mở mỗi khi có một toán đông người tù được vài chú lính dẫn đi làm. Hồi đó người QT hay gọi là đi làm "cỏ vê"(corvee) nôm na là đi làm tạp dịch. Đoàn tù sẽ đi một đoàn dài ra tận ngoài tòa tỉnh hay mấy cơ quan công sở nào đó. Xế chiều đoàn tù mới về.

 


 

Người viết không quên hình ảnh đoàn tù đi về có chiếc xe kéo. Trong cái lồng vuông trên xe, có vài con chó kém may do chạy rong ngoài đường nên bị bắt. Thời này chó chạy rong ngoài đường là có lệnh bắt do thiên hạ sợ chó dại cắn. Nhắc đến đây, tôi nhớ hình ảnh cái thòng lọng bằng kẽm. Bàn tay thiện nghệ của một chú tù, tiếng kêu ăng ẳng của con chó bị bắt.  Tôi tin chắc mấy con chó vô phúc đó sẽ không có ngày trở lại.

   Hình ảnh đoàn tù đi làm corvee ngày đó làm tôi nhớ đến cái chết của anh Thủ con bác Trữ sau xóm. Một chiều nọ có chú lính Bảo An đang dẫn tù về. Đoàn tù đang đi ngoài đường Lê v Duyệt thì anh Thủ chạy ra gây hấn với chú lính này để trả thù. Có người kể nguyên cớ là những ngày anh Thủ ở tù trong Lao xá có tư thù với chú lính đó.  Khi ra tù anh Thủ chờ dịp người đó dẫn tù qua xóm, anh mới chạy ra gây sự trả thù. Cuộc cãi cọ đưa đến án mạng. Trong cơn tức giận người lính sẵn mang súng, chú đuổi theo anh Thủ vào tận trong xóm. Ngay lúc đó, tôi  nghe những phát đạn từ khẩu súng tiểu liên thompson vang lên bên xóm. Chạy vội qua, tôi chứng kiến hình ảnh anh Thủ nằm ngữa trên nền nhà, thở thoi thóp. Lúc bị đạn, anh Thủ đang ở trần, thân hình lực lưỡng chỉ 1 cái quần đùi. Rất may mắn trong cái phòng đó còn có cái nôi con nít đang đu đưa nhưng không hề hấn gì. Anh Thủ nằm chết trên nền nhà bác Lê bá Oa, ông thân anh Lê bá Lư. ( nhà xóm sau lưng nhà Hà thị bích Huờng và nhà cậu tôi). Tội nghiệp anh Thủ; xóm Cửa Hậu chúng tôi mất Anh là mất một giọng ca vọng cổ " rất mùi". Đáng tiếc làm sao do anh không quên đi chuyện cũ những ngày trong tù mới có kết quả bi thảm như thế.
 
Nói lan man qua xóm tôi thì phải kể đến nhà ông Cai Ngữ. Ông là thân sinh các anh Khanh, Sỏ, Thăng. Anh Sỏ học giỏi. Anh Sỏ vào đại học Huế nhưng chưa ra sư phạm ngay mà học thêm cao học toán. Nhớ đến anh Sỏ, tôi nhớ đến mặt anh khi nào cũng đỏ gay như uống rượu, cái áo sơ mi trắng khi nào cũng xuề xòa bỏ ngoài, cùng dáng đi nhanh thoăn thoắt. Thời buổi này trai tráng trong thôn ai cũng lên đường tòng quân dù ở phía nào cũng phải tuân hành lệnh chính phủ trên ban. Trường hợp theo đuổi học vấn lên cao như anh Sỏ thì phải là hiếm.


                                     

Người viết cứ lan man phải trở về chuyện Thành Cổ. Cửa Hậu chỉ mở cho đến 1967 còn cửa Hữu tức là cổng thành Đinh công Tráng mở cho đến ngày tan nát. Ngoài ra, cửa Tả ngó ra đường Duy Tân, Cửa Tiền ngó ra đường Lê thái Tổ thì bị đóng từ lâu. Nhắc đến Thành thì phải nhắc đến cái hồ bao quanh. Đến mùa nước lên tức là mùa lụt nước dâng. Từ sông Thạch Hãn nước tràn vào hồ lênh láng làm khổ những dãy nhà xây sát bờ hồ. Đất hẹp người đông, dĩ nhiên hồ Thành cũng bị lấn nhưng chuyện này cũng giúp cá trong hồ sinh sôi nảy nở rất nhiều. Thế là lúc mùa khô về, khi hồ Thành chỉ còn xâm sấp nước cùng màu xanh của lục bình là lúc những người tù "nhà phạt" trong thành bị dẫn ra ra tát cá. Xóm Cửa Hậu vui lây từ tiếng ồn ào của người tù tát nước bắt cá. Cá nhiều lắm. Mấy cái thùng phuy chẳng bao lâu lại đựng đầy ắp cá.  Ở hồ cá bắt được toàn là cá tràu (lóc). Trên mé đường quan, người dân xóm chúng tôi, nói đúng ra là cả phường chúng tôi đứng chờ sẵn. Xế trưa khi cả trăm người tù cùng mấy thùng cá vào hết trong thành; vừa lúc 2 cánh cửa thành khép lại là chúng tôi a nhau xuống hồ. Lúc này tiếng ồn ào huyên náo của người dân lại còn gấp mấy lần lúc sáng. Những tốp nhỏ chia nhau từng lô tát thật cạn nước để mò cá. Có đứa mò thật tài chỉ chút chi là được mấy con tràu to bằng cán rựa. Có đứa giỏi hơn bắt được cả mấy con lươn dài ngùng ngoằn vàng hươm. Tôi sợ nhất mấy con rô hay con hẽn (cá trê) cái ngạnh, cái kỳ của chúng nhọn hoắt làm chảy cả máu tay. Lớp bùn dày của hồ này nó còn tiềm ẩn bao nhiêu con cá chưa bắt được nhưng nó không thoát được những bàn tay mò cá giỏi cùng tính chịu khó. Bà con trong xóm a nhau tới coi con cá tràu to nhất nó bị quăng ngay lê bờ vì nếu để nó vùng vằng lâu sẽ truột khỏi tay và trốn thoát dưới bùn. Lại thằng Mẹo hắn việc chi cũng rành. Con tràu to nhất là của nó; sau khi quăng con tràu lên bờ nó vọt theo đè cả người lên con cá đang vẫy vùng muốn thoát lại xuống hồ. Nói chung cá và hồ là sở hữu của Thành người dân không có quyền chi, thế nhưng ngày tát cá thu nguồn lợi từ cái hồ trước mặt cửa Lao xá thì quân dân ai cũng có phần chẳng hề làm khó. Khi mùa khô tháng hạ thực sự đến, người tù Lao Xá lại ra trồng rau muống để có thêm rau cho tù ăn.

 

 

   Từ cửa Hậu trong thành ngó về hướng sông sẽ có cái chòi canh cao ngất xây từ thời Pháp nên không ai còn dùng. Cái chòi này từ An tiêm Nại Cửu nhìn lên thành phố là thấy. Ngày xưa khi học lớp nhì Trường Nam,  tôi hay theo mấy đứa bạn ở "trại gia binh" theo Cửa Hữu để vào. Nhà thằng Hùng học cùng lớp, ba hắn nghe đâu là trung úy người nam và nhà đứa bạn ở cái nhà Gia Binh sát cái chòi canh cao ngất. Tôi có dịp mon men tới đứng cạnh cái chòi nghe đâu xây từ thời Pháp này. Nhìn cái thang sắt sét rỉ, tôi nhát gan chỉ tới gần và chẳng dám leo lên.  Phía chân cái chòi cao này, có một đoạn thành bị sập ngó ra con đường Lê văn Duyệt . Hồi này người trong thành có ra đây xây mấy cái hồ nuôi cá rô phi. Trên mé đường Lê văn Duyệt phải qua cái cửa đúc xi măng có khắc hình cá rô phi đàng hoàng. Sau này nuôi cá không xong, lại trồng rau muống, cuối cùng lại biến thành Trại Gà. 

 

Từ Trại Gà trong thành, qua mấy hồ cá bỏ hoang, leo lên đường Lê văn Duyệt chúng ta nếu quẹo trái sẽ hướng múi đầu Trần Hưng Đạo. Nhưng trước tiên phải gặp nhà ông Đội Chức. Nhà ông có mấy cây đào lựu lâu năm rậm rạp người ta đồn có tinh (tức là ma cái). Dân trong thôn thêu dệt chuyện Anh Trần Đại -bạn ngang lứa với nhà văn Hoàng Long Hải- con ông Đội Chức "điên điên tàng tàng" gì đó. Thiên hạ ác khẩu đồn rằng do anh "lấy con tinh" cái kia làm 'vợ'. Thiên hạ 'thêm mắm thêm muối' rằng: đêm khuya đi ngang Miếu Âm Hồn này còn nghe tiếng ru con nữa mới là rùng rợn. Nói gì thì nói ngay ngả ba Lê văn Duyệt múi Trần hưng Đạo phía một góc đất kế con hói tức đối diện miếu này có một bãi tha ma. Người lớn kể lại rằng Tây bắn tù chính trị chôn lấp ở đây nhưng có người viết khác ví dụ cũng theo nhà văn Hoàng long Hải (Tuệ Chương) thì bãi tha ma này là nơi chôn những hài nhi từ nhà thuơng Tây gần đó - sau này là trường Nữ Tiểu Học Quảng trị - đem ra chôn tại đây. Sau này bãi tha ma trở thành những nấm mồ vô chủ theo ngày tháng đất đá mòn dần không ai nhang khói và mất dần dấu vết. Ngoại trừ mấy ngôi mả bằng đá, người viết ngày ngày đi học ngang đó còn thấy, có người nói là mả Nhật thì không bị thời gian phá hoại thôi.

 

Tác giả khó quên thứ cảm giác  "ơn ớn" mỗi lúc đi học ngang qua Miếu Âm hồn (theo bác Hoàng long Hải thì Miếu Đôi nằm sát với bờ sông Thạch Hãn gần tới chùa Tỉnh Hội còn đây là miếu Âm Hồn ngày xưa người viết cũng hay nhầm) và bãi tha ma đó cũng theo bác Hải thì đây là nơi chôn cất những người chết từ nhà thuơng tỉnh gần đó, nhà thuơng này sau này làm trường Nữ tiểu học QT- ngó qua Trại Tuyển Mộ.

 

Miếu Âm Hồn này cạnh "xóm Heo", tên xóm này người dân trong phường Đệ Tứ đặt với nhau, lâu ngày quen miệng. Sau này tôi cũng bớt sợ miếu âm hồn đó nhờ ngày rằm nhóm "THIÊN TIÊN THÁNH GIÁO" của ông họa sĩ tên Tư nào đó trên phố QT, cứ dịp rằm ông Tư hay về làm lễ trong miếu này.   

 

con lân đúc nổi trên tấm bình phong trước miễu - hai con mắt "ma quái" cuả nó như đang lom lom nhìn tôi...

  Đi học ngang qua tôi có ghé vô miếu coi. Ông Tư lúc nào cũng giả trang làm "BÀ" cùng các bà kia phấn son lòe loẹt, tiếng 'cóc xèng xèng", tiếng ông Tư lên đồng, cùng khói hương nghi ngút làm tôi hết cả sợ khi nhìn con lân đúc nổi trên tấm bình phong trước miễu - hai con mắt "ma quái" cuả nó như đang lom lom nhìn tôi . Bà ngoại tôi có kể rằng mạ tôi ngày xưa hồi nhỏ đi theo ngoại tôi, mạ tôi đi sau ngoại tôi chợt linh tính sao nhìn vô trong miếu thấy một khuôn mặt như mặt mèo, hai con mắt xanh lè. Mạ tôi sợ "cứng cả người"á khẩu không nói được , về nhà bà ngoại tôi vuốt tim xoa dầu " hu' ba hồn bảy vía" rất lâu mạ tôi mới hoàn hồn. Từ câu chuyện ngoại kể lại nên lúc nào đi học ngang Miếu Đôi tôi cũng sợ. Nhìn mấy chùm đào lựu xum xuê trái trên mấy cành cao che phủ nóc miếu tôi chẳng 'dám thèm" cúi đầu đi thẳng.(Chỉ khi qua nhà ông đại úy Đối có mấy trái đào tiên trăng trắng (trong nam gọi mận)ló ra ngoài bức tường rào tôi mới có gan kiếm vài trái mà thôi

 

Cạnh miếu có mấy cây ngô đồng cổ thụ đầy bóng mát. Gia đình phật tử trong phường chùa Tỉnh hội hay tụ họp sinh hoạt cùng các em oanh vũ.  

 

Ngang xóm Heo là bắt đầu con đường Trần hưng Đạo. Từ múi đầu đường này đi lên ít bước là Trại Tuyển Mộ Nhập Ngũ, bước qua Cao Thắng mới tới Trường Nam.

 

đoàn hát bội Hoa Mai (hình tượng trưng)
 

 

Tiếng là "bốn ngã đường thành", nhưng theo ý tôi con đường Lê văn Duyệt là vui nhất. Trước tiên vì nó có sinh hoạt của người tù ra vô hàng ngày qua cổng Lao Xá , có lính tráng ra mua bán, và phải nói đến đám HÁT BỘI tên là HOA MAI của ông ĐƯƠNG "đóng quân lâu dài" trước mặt nhà ông Đội Chức nơi cái bãi đất làm sân bóng trong thôn. Ông Đương và đoàn Hoa Mai của ông rất nghèo, nghèo đến nỗi cả đoàn không còn tiền để về lại quê huơng Quảng Nam của ông. Lúc đầu người dân thôn tôi tức là thôn Đệ Tứ (đường Lê v Duyệt) còn tiền coi dần dà hết tiền khách vắng dần. Hồi đó tôi rất mê hát bội của đoàn hát này. Do chẳng có cái thú nào hơn đoàn hát này. Rất lâu mới có một đoàn chiếu phim công cộng. Có đoàn cải lương nào đó trong nam ra thành phố Quảng trị lại còn hiếm hoi hơn.  Dù có hay không, tôi làm gì mua nỗi cái vé đắt tiền của các đoàn cải lương nổi tiếng như Thủ Đô, Hương Mùa Thu, Thanh Minh -Thanh Nga dạo đó? 


Người kể xin trở lại đoàn hát bội Hoa Mai.  Ông bà Đương đóng đủ vai- từ Phật THÍCH CA, Quan Âm thị Kính, cho đến Quan Công, Trương Phi ông cũng đóng "tuốt luốt".  Tôi nhớ làm sao, tiếng trống "cầm chầu" của mấy cụ già. Mấy dồng bạc quăng lên sân khấu thuởng cho diễn viên cùng cái bóng lom khom của đửa nhỏ nhanh nhẩu chạy ra lượm tiền. Đoàn hát trú ngụ ở phường chúng tôi lâu quá, tài tử đẻ thêm con. Túi tiền dân trong phường lâu ngày cũng cạn. Sự tò mò háo hức cũng tan dần khi nhìn thấy bà bầu tức vợ ông Đương cùng những bà vợ mấy ông kép khác ban ngày ra chợ không còn "hình dáng mỹ miều" như lúc đóng tuồng mà là những bà đào về chiều già nua, nhăn nheo đến thảm thiết.  Tôi còn nhớ, có những đêm mưa, vắng khách, tiếng ông Đương van nài "xin quý vị coi giúp cho đoàn tôi vì mùa đông mưa gió tội nghiệp!!!"...

 

Sự buồn rầu ảo não cùng thê lương của một đoàn hát "về chiều" lại bị mắc kẹt lại tại một thôn xóm cũng nghèo ngày đó quả là một dấu ấn khó quên cho cuộc đời nghệ sĩ.  Bao nhiêu cảm nhận đáng thương cho những ai làm văn hóa mà cơm không đủ ăn áo không đủ mặc, đáng lẽ họ phải được nâng đỡ và bảo trợ cho những công việc bảo tồn giềng mối đạo đức phong hóa cho dân tộc.

THỜI GIAN QUA MAU. ÔI 'SUƠNG GIÓ PHÔI PHA BÓNG NGUYỆT TÀ..." NHƯ CÂU THƠ XƯA HÀN TÍN. BỨC TƯỜNG THÀNH RÊU PHONG PHỦ KÍN, DI TÍCH QUẢNG TRỊ, NAY CHỈ CÒN ĐỌNG LẠI TRONG KÝ ỨC NHỮNG AI CÓ TÂM HỒN HOÀI CỔ. 
   Kể lại cho thế hệ sau người viết thường mang một hoài bão trong lòng. Đó là tình thương nhớ về một thành phố nơi tôi hay bao người Quảng Trị cất tiếng khóc chào đời. Một Thành Xưa và bao con đường dấu ái phôi pha trong vùng dĩ vãng hay kỷ niệm ngọc ngà. Lòng tôi mong ước với trí tưởng tượng phong phú của tuổi trẻ hôm nay con em người Quảng Trị sẽ tưởng tượng ra hình ảnh  một THÀNH CỔ uy nghi từng mang tên một danh tướng có tên là Đinh công Tráng oai linh  hiện về cùng với cháu con hay hậu thế ./.

 

 CALI ngày 6 tháng 11 năm 2011
Đinh hoa Lu
edition  30/10/2022 SAN JOSE USA
===============================================================
                                                 2012   DHL VỀ THĂM  LẠI THÀNH XƯA

                                
  Cửa Hậu NGÓ RA được xây mới NGÓ RA ĐƯỜNG LÊ VĂN DUYỆT CŨ ngõ này huớng về An Tiêm bằng con đường gọi là ĐƯỜNG NGỰ nhưng trong hình chúng ta đã thấy nhà xây bít lối

              DI TÍCH CỬA LAO XÁ hay CỬA HẬU

                                       CỬA HẬU  NGÓ VỀ GÓC BẦU

TỪ CỬA HẬU NGÓ LÊN XÓM HEO HAY múi đường TRẦN HƯNG ĐẠO

                 
   VẪN ĐÁM LỤC BÌNH HAY BÈO DƯỚI HỐ QUANH THÀNH  ngày xưa cũng vậy


 
Ợ CHỒNG NGƯỜI VIẾT BÀI NÀY VỀ LẠI QT 6/2012

          HUỲNH RÔ CON CHÚ HUỲNH CHỐN XE ĐÒ QT-HUẾ XÓM CỬA HẬU XƯA

 


      Đinh trọng Phúc và Lê v Lộc  (LÊ BẢO LÂM) / XÓM GÓC BẦU CỬA TẢ XƯA 6/2012

BÃI NHAN BIỀU XƯA NAY KHÔNG CÒN


 CALI ngày 6 tháng 11 năm 2011


Đinh trọng Phúc tái biên 8/1/2026 San Jose USA 

Monday, January 5, 2026

TÌNH ANH LÍNH CHIẾN


 

Xuyên lá cành trăng lên lều vải
Lòng đất ấm thương tình đôi mươi
Thương những người mạch sống đang khơi
Đang tìm một cuộc đời cho lòng vơi nét phong sương...
(Tình Anh Lính Chiến/ Lam Phương 1959)




    Tuổi về già nơi đất khách lưu xứ, bất chợt một ngày tự nhiên trong lòng tôi nhớ sao những ngày nhỏ dại, khoảng vào đầu thập niên 1960 cứ nhớ mẹ tôi mỗi lần đi buôn bán đường xa về lại ậm ừ hát những câu trong bài hát dễ thương đậm tình quân dân cá nước nói trên.


TÌNH ANH LÍNH CHIẾN


Thật tình, bài hát này thời nay không biết do sao ít nghe hát? Tình cảm người miền nam đối với anh lính chiến VNCH càng về sau càng sâu đậm. Với phong trào nhạc bolero dâng cao trong lòng người dân Việt hiện nay bất kể miền nào. Lồng trong ý nhạc đó là những bài về người lính chiến VNCH. Thế nhưng người viết ít nghe bản nhạc Tình Anh Lính Chiến được thế nhân hát nhiều? Một bản nhạc của cố Nhạc Sĩ Lam Phương, người nhạc sĩ từng có thế đứng vững vàng trong làng tân nhạc xưa nay.


NHỚ MẸ HIỀN TÔI VÀ BẢN TÌNH ANH LÍNH CHIẾN


Một thời mẹ còn trẻ sống nhờ dưới mái nhà cùng sự đùm bọc của bà ngoại. Mẹ tôi buôn bán đường xa gửi tôi và 2 em gái lại cho bà. Có lần ngoại kể, năm tôi mới một tuổi, cứ lần nghe bà soạn chén đọi nghe tiếng lịch kịch, tôi vốn tính háu ăn vội lổm nhổm bò nhanh tới bên người. Sau này lớn thêm vài năm, nhớ lúc mẹ đi buôn bán đường xa về, tiếng nước rửa chân, tiếng hát nho nhỏ của mẹ cũng bài hát đó. Có thể mẹ thuộc nó từ lâu. Sau những lần mẹ gội đầu, đứa bé nhớ hình ảnh mẹ ngồi bên hiên chải đầu, nhớ hương bồ kết thơm bay bên mái hiên nhà ngoại, tiếng hát nho nhỏ của mẹ, cũng bài Tình Anh Lính Chiến mẹ thuộc nằm lòng.




Mới bảy tuổi đầu thế mà tôi còn nhớ lời nhạc mẹ tôi thích. Những lần âu yếm con trai mẹ lại lẩm nhẩm bài hát đó. Tuổi nhỏ tôi lại có cái tính "nhớ dai" mới lạ? Thằng bé năm xưa còn nhớ  hình ảnh cái table de Nuit cũ kỷ màu hạt dẻ bên đầu giường. Đứa con trai  nhớ hình ảnh hộp bánh không của Pháp, cái hộp không đó mẹ dùng đựng vài thứ phấn son. Ôi cái hộp sắt tây vuông vuông đó cũ làm sao? hình bà đầm phía ngoài nắp, bà chắc đẹp lắm, nhưng nét nhạt nhòa vài nơi. Mẹ dùng cái hộp đó lâu ngày có thể từ lúc mẹ mới lấy ba tôi, bên trong đã đổi màu. Tôi nhớ bận ngọc màu xanh mẹ tôi giữ làm của. Mẹ có bận ngọc lúc nào tôi chẳng biết nhưng hình mẹ cùng bận ngọc, làm tôi nhớ về ngày tháng cũ ...một mái tranh rộng lớn của ngoại, các gia đình cậu, ba mẹ tôi đều đùm bọc nhau cùng sống. 

Những năm tiếp theo, cũng từ phường Đệ Tứ...các cậu tôi lần lượt khoác áo chiến y, tòng quân nhập ngũ. Các cậu ra đi, các chú các anh trong thôn ra đi, xóm làng bà con luôn nhớ nhung và mong đợi...


Anh chiến trường tôi nơi hậu tuyến
Đời lính chiến xui gặp nhau đây
Đôi đứa mình còn mỗi đêm nay
Nói gì cạn niềm thương để rồi mai ta lên đường...


               tuổi nhỏ, tôi mãi theo chân mẹ hiền

Tôi nhớ mang máng, chỉ một hai đoạn đầu..nhất là câu "xuyên lá cành trăng lên lều vải.." rồi tưởng tượng ra ánh trăng nào đó sáng vằng vặc, qua lá, qua cành. Năm đó tôi chưa hình dung rõ ràng, tình cảm chan hòa với người lính chiến ra sao. Có thể đó là một thời người hậu phương ca tụng những người trai lên đường giúp nước. Những người mẹ, người chị, người bạn, người yêu ở lại hậu phương ngày ngày thương nhớ và ngưỡng mộ bao lớp thanh niên ra đi. Tuổi thơ sinh ra nơi quê ngoại. Ba tôi là công chức. Chỉ các cậu tôi là quân đội. Khói lửa chiến chinh càng lúc càng ngập tràn. Tôi lớn dần bên quê hương đất khổ, ý thức nét oai hùng từ những bộ rằn ri các cậu bận mỗi lần về phép hay hành quân ra vùng giới tuyến. Những ngày tôi lớn khôn thêm, lời bài hát cũ mẹ tôi hay hát trước kia nhạt nhòa theo năm tháng.


Rồi ngày mai ra đi
Chốn biên thùy anh sá chi gian nguy
Có bao giờ anh nhớ chăng
Đêm nào nằm gần nhau
Hồn xây mộng ước mai sau...



Quả đúng, bản Nhạc Tình Anh Lính Chiến theo thời gian qua các thập niên 70, 80 ...ít hát dần đi. Ra đến hải ngoại tôi chưa nghe các ca sĩ hát lại trên sân khấu lớn lần nào, ngoại trừ băng nhạc.


Dù chỉ họa hoằn, mỗi khi tôi có dịp nghe lại bản Tình Anh Lính Chiến đó là lúc tôi chợt nhớ đến mẹ hiền. Hình ảnh ngày xưa, mấy anh em ở với ngoại hàng ngày hay ngóng mẹ về.


Mai nếu đời ngăn chia ngàn lối
Đừng quên nhé những ngày bên nhau
Đêm cuối cùng buồn quá anh ơi
Bao giờ tình ngàn phương hòa lòng trai nơi sa trường


Giã từ thành phố xa xưa, có những chàng trai ra đi từ thôn xóm cũ. Những người bạn hay những lứa thanh niên, các cậu tôi và bạn bè ra đi từ dạo đó. Cho đến nay kỷ niệm với bài hát xa xưa riêng tôi ngày đó chỉ là là đứa con trai, người anh đầu, lại hay lẻo đẻo bên mẹ. Lời mẹ hát thì thầm, một mình, đó là bài ca năm cũ. Trong trí nhớ tôi chỉ là câu hát đầu cho đến sau này tôi mới biết tên. Thế nhưng lại xúc động làm sao, đó là lời ca, mỗi lần nghe làm tôi chạnh nhớ đến mẹ hiền cùng ngày tháng tảo tần và êm đềm bên ngoại./.


Đinh trọng Phúc 

edition 5/1/2026 San Jose USA


Sunday, January 4, 2026

THẠCH LỮ THI TẬP- Tình Non Nước

nguồn:

THẠCH LỮ THI TẬP
 


CỤ THẠCH LỮ  VẢ CON GÁI SAU 1975 NHA TRANG


***


XÁCH  NƯỚC


Nước sông công múc gắng mà lo

Đã khát khao gì phải chắn bo.
Trời hộ lưng dài vai cánh sức,
Đất đâu hoa héo cỏ cây khô.
Thương O đứt gióng ngồi chưng chửng,
Trách kẻ đầy bầu chạy thẳng ro
Bạn hữu nhà nông quên việc lớn,
Ít chăm lo ruộng luống lo kho.





            THẠCH LỮ.

(Tập nội san Khổng học số 5 (1962))

TÌNH NON NƯỚC

Yêu đời đôi bạn trẻ xanh,
Khối tình chồng chất dòng tình láng lai.
Lô nhô non đứng trông người,
Quanh co nước những đoái hoài tình yêu.
Tháng ngày cấp lộc cho tiều,
Đón đưa ông Ngự chiều chiều ra câu.
Nước non muôn thửa cao sâu,
Cá chim nương máu cùng nhau nặng tình.
Đạn tên non đỡ bức thành,
Đục trong nước chịu đủ vành trần ai!
Non xanh nước biếc nào phai.
Mồi tình thắm đượm với đời bấy lâu.
Trời nghiêng non đỡ lên đầu,
Đất khan nước dưỡng hoa màu xinh tươi.
Đá vàng non nặng tình đời,
Trắng trong nước để cho người mãnh gương.
Muốn tiêu non sẵn mỏ vàng,
Muốn vui khe suối cung đàn câu ca.
Giờ sao nước cách non xa,
Ai đem tình ái đổi ra tình sầu ?
Tuyết pha non cũng bạc đầu,
Sóng xao nước cũng buồn chau mặt mày.
Mây sầu gió hận tan bay,
Chung đưa non nước đến ngày vinh quang.
Nối liền lại giải giang san,
Tơ tình một mối muôn ngàn gấm hoa.
Nợ tình non nước bao la.

THẠCH LỮ