Wednesday, March 4, 2026

MÙA XUÂN LÁ KHÔ


Tôi trở lại vùng hành quân vùng xa xôi đá sỏi biết buồnBa tháng hậu phương yên bình tuy vết thương chưa lành hẳnTôi lại đi giữa lạnh sang ĐôngĐời tôi chinh chiến lâu năm, yêu lúc băng rừng như mộng tình nhân...

(Mùa Xuân Lá Khô/ Trần thiện Thanh)

***

    
    Mấy tháng cuối thu 1974 cả tiểu đoàn đau "rạt gáo"  do một chứng sốt tràn lan một cách lạ kỳ trên vùng Động Ô Đô. Lính bị bệnh cáng về hậu cứ càng lúc càng nhiều. Từ đó quân số Tiểu Đoàn 105 thiếu hụt trầm trọng. Trung đội tôi chỉ còn khoảng hơn hai mươi người. Tính theo đơn vị nhỏ nhất là tiểu đội đôi khi còn ba, bốn người thôi. Thiếu quân như thế, làm sao gác giặc? Hằng đêm chúng tôi phải thay phiên gác tới hai ca. Ca một từ 6 tới 8 giờ tối thì ca hai từ 4 tới 6 giờ sáng...  Sốt rét và thiếu ngủ và thiếu cả cái ăn làm lính càng yếu sức thêm. Tôi tuy là trung đội trưởng nhưng chỉ khỏi gác khi quân số đầy đủ. Tình hình sốt lan tràn toàn vùng Ông Đô, nơi nào cũng thiếu lính không riêng gì trung đội tôi.

Trước khi kể lại chuyện xưa, chuyện một "Mùa Xuân Lá Khô" một đề bài do người viết cảm hứng từ bản nhạc của NS Trần thiện Thanh, tôi cũng đính chính một chút về cái tên "Động Ông Đô" thật ra ngày trước người Quảng Trị mình gọi là "Độn Ôn Do" mà tiếng "Do" người Mỹ đọc trên bản đồ là "Đô" và sau này các đơn vị QLVNCH thì theo vậy mà gọi. Chỉ có một lần ngày xưa còn nhỏ tôi thường nghe người làng Nại Cửu như cậu Võ Thế Hòa (Dâu) thường bàn tán nhau "chèo đò lên Trấm lên độn Ôn Do" kiếm củi...



 Tác giả vốn đã ốm, vướng sốt nên càng lúc càng gầy rọc đi. Đêm đêm trong người mãi sốt ngầm, tóc rụng nhiều. Tôi vẫn bám chốt, vẫn gác 2 ca hàng đêm. Quân số càng lúc càng thưa do lính khai bệnh về hậu cứ. Phần tôi dù cố gắng chi rồi cũng 'chống gậy' theo xe tiếp tế tiểu đoàn về Bệnh Xá Tiểu Khu.

Nói ra thì nghe khá lạ lùng? sao lại "chống gậy" lúc mới 21 tuổi đời? Số là sốt quá, tôi mắt lúc nào cũng hoa lên, cảm giác sẵn sàng nôn ói?  Hơn hai tháng trời không có chất gì trong người. lại phải canh chốt, thức ngủ thì làm sao không chống gậy cho được?



Tiểu Khu QT đóng tại cồn cát Diên Sanh. Lúc này ông Trung tá Đỗ Kỳ làm Tiểu Khu Trưởng. Vào năm sau Ông Kỳ lên đại tá- là "dân" TQLC thì họ biết tin còn chúng tôi ở trên núi chẳng nghe tin này. Thật ra ông Đỗ Kỳ ít được người Quảng Trị biết nhiều. Đại Tá Đỗ Kỳ làm TK Trưởng do cả sư đoàn TQLC đóng tại QT là chuyện hợp lý.

Trở lại chuyện tôi, về được bệnh xá Tiểu Khu, nhưng để lại một trung đội thiếu quân số, thiếu mọi thứ...những anh em khác đau quá về trước tôi. Đến phiên người trung đội trưởng về sau hết. Ngày đó quả thật tôi ốm quá người quen chẳng nhận ra:

``-Ui chao, mi đó Phúc?!

 Người nhà của Trần Tài, bạn cùng xóm trước đây bất ngờ gặp tôi đều thương cảm thốt lên như rứa. Bác Cai Trà, mạ hắn hay anh hắn đều ở Khu Thị Tứ trước mặt Tiểu Khu. Cả một vùng đóng trên cồn cát Diên Sanh. Bà con cố cựu đều là dân thị xã trước đây cả. Người cùng xóm cũ, quả thật ai cũng ái ngại, thương cho tôi hoàn cảnh xa gia đình cha mẹ. Nhà tôi tất cả đều di dân vào nam rồi.











Em Gái Hậu Phương & Tiểu Đoàn 105 TKQT tại Cầu Ba Bến 1969 (2 đại úy Lê kim Chung và Trần quang Hiền người giữa) Thời gian này tác giả chưa ra đơn vị 

*
 Lúc nằm bệnh ở đây tôi biết Ông Đại Uý Quân Y Hoàng Trọng Mộng làm trưởng Bệnh Xá. Tôi biết ông bác sĩ Mộng do Ông là "người tình" của dì tôi. Khi hai người có đứa con gái tên Hoàng thị Mộng Hằng thì dì tôi và gia đình đã ra đi theo chương trình Khẩn Hoang Lập Ấp.  Đứa con gái dì tôi nay ở Trị An, sau này cũng liên lạc được với cha mình.  Ông Hoàng trọng Mộng sau 1975 được tái hành nghề bác sĩ tại Sài Gòn cho đến khoảng gần năm 2020 thì mất.  Ngày đó nằm bệnh xá, ông Mộng có xuống thăm thương bệnh binh. Thật tâm tôi chẳng muốn nói hay nhìn quen biết làm chi. Tôi về nằm bệnh ở đây là hợp lý chẳng cần "thân quen hay xin xỏ" ai nữa. Nhìn người tôi lúc đó- ốm tong teo, xanh xao do sốt rétthiếu ăn, mất ngủ như rứa thì ai mà không cho nằm viện?

Nằm tại Bệnh Xá được năm mươi lăm ngày, tôi dần hồi khỏe người vui vẻ trở lại. Ngày ngày vào câu lạc bộ tiểu khu, vui quá nói chuyện huyên thiên đến nổi có bà ngoại mẹ người chủ rầy la "sao ồn quá". Hết bệnh tôi cầm tờ giấy phép vào tận Mỹ Tho thăm gia đình. 

Tôi có ghé Bình Tuy thăm bà con ở Động Đền. Động Đền là một cái tên của một vùng chứ không phải tên thôn hay tên xã nào cả. Động Đền là một vùng từ múi đầu của tỉnh lộ 55 chạy đến chân dốc xã Tân Sơn thuộc Quận Hàm Tân, Bình Tuy hồi đó.

 Người QT năm 1974 đã vào Bình Tuy hơn một nửa, chỉ một phần ba hồi cư về lại QT thôi. Tiểu Khu QT cũng chia đôi để đi theo Chương Trình Khẩn Hoang LẬP ẤP

Tôi ghé thăm vùng đất mới Động Đền vỏn vẹn hai ngày nhưng nhiều ấn tượng. Hình ảnh những cánh rừng mới bị chặt hạ ngổn ngang trên vùng đất cao xã Tân Sơn. Có mấy cái quán tranh bán cà phê nho nhỏ trước cái chợ có tên Động Đền. Những mái nhà tôn xi măng và tranh xen kẽ. Đi đâu cũng là người là người QT. Bà con gần nhau, đùm bọc nhau mà sống. Năm này chỉ có bà con ngoại tôi ở đây. Dì kế mẹ tôi có mở cái quán cà phê cũng lợp tranh tại chợ Động Đền. Cái quán ngó qua con đường tỉnh lộ 55 là quán tiết canh. Mệ bán tiết canh một thời nổi tiếng tiết canh ở chợ Sãi QT trước 1972. Nay mệ mở quán, bà con đặt cho cái tên là "Quán Mệ Tiết Canh". Năm 1974 người QT Khẩn Hoang Lập Ấp vào đây, than củi bán mua còn tấp nập. Cà phê bán cũng đắt khách do người dân còn trợ cấp, còn tiền làm than rồi đất đai mới khai hoang nông sản dồi dào. Trường học như tư thục Thanh Linh do Linh mục Nguyễn vân Nam làm hiệu trưởng. Bên cạnh đó trường học công do chương trình Khẩn Hoang Lập ấp BS Phan Quang Đán tài trợ mở mang từ Động Đền cho đến các xã trên cao như Sơn Mỹ đều được xây bằng xi măng lợp tôn vững chắc...

Gia đình ba mẹ tôi một năm sau tức là sau 1975 mới giã từ Mỹ Tho để về Động Đền. 

Hết phép mười lăm ngày, tôi ra lại miền trung  đúng vào dịp Noel 1974. Trước khi lên núi lại, tôi có hai ba ngày, lẩn quẩn về  thăm xã Hải Thọ thăm nhà mợ tôi. Cậu Võ Hoa tôi làm Phòng Ba/ TKQT và mợ tôi cũng là người Diên Sanh. Nhà mợ Lành gần ngã ba vào Chợ Diên Sanh. Vùng này một thời ai cũng biết người anh của mợ tôi. Anh ấy tên Xíu; người to con vạm vở, sức mạnh vô cùng. Sau này anh mất sớm.

 Ngày đó tôi dắt đứa em gái, con đầu của cậu mợ tôi- Võ thị Sớm Hồng- mới hai, ba tuổi đi vào Chợ Diên Sanh. Ai cũng ngỡ ngàng: 

-A Ôn Ch. Úy có con, mà răng còn trẻ dữ rứa?

 Ra trường vào cuối tháng 11 năm 1973, tôi đúng hai mươi tuổi đời, còn độc thân. Chuyện lập gia đình quả là xa vời, thật lòng tôi chưa bao giờ nghĩ đến.  Ngày đầu tiên trong đời binh nghiệp, từ Quân Trường Đống Đế tôi là người đầu tiên trong khóa  tình nguyện chọn về lại quê hương Quảng Trị. Cả khóa đứa nào cũng vỗ tay cho là 'anh hùng'? tôi đâu phải là anh hùng, do tôi chỉ muốn về lại quê hương mà thôi.

 Những ngày trình diện đơn vị mới là mùa Giáng Sinh 1973. Đúng một năm sau, mùa giáng sinh 1974, tôi đi phép bệnh và ra lại TKQT trả phép. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi đi phép đơn vị. Một cái phép "bất đắc dĩ" do nằm bệnh non 2 tháng mà có.  Tôi vào nam xong ra lại Đà Nẵng thăm cậu tôi- Đại Úy Võ Bình, binh chủng Lôi Hổ đang đóng tại Sơn Trà. Quà cậu tôi cho là quả lựu đạn mini nhỏ xíu bằng trái cau, bỏ túi phòng thân. Tại sao tôi gọi là "quà" do thứ lựu đạn nhỏ xíu đó chỉ có "dân biệt kích nhảy toán" hay "bóng ma biên giới" mới có, binh chủng khác không bao giờ được cấp phát.

Khác với năm 1973, vào Giáng Sinh năm 1974 người QT tại Hòa Khánh và Non Nước đã hồi cư hay di dân vào nam hết. Các trại tạm cư tại Đà Nẵng không còn. Tôi giã từ Đà Nẵng, vội về lại Diên Sanh.

trường TH Nguyễn Hoàng và khu Thị tứ  1973

*
Tôi chưa vô gấp Tiểu Khu, lại lên Khu Thị Tứ. Khu Thị Tứ lập ngay trước mặt Tiểu Khu QT. Tôi đi  thăm bà con lối xóm mới hồi cư. Nhất là người bạn trong xóm Cửa Hậu năm xưa tức là Trần Tài. Tài là con út của ôn mệ Cai Trà, Phường Đệ Tứ QT cũ.  Tôi vào nhà Tài. Lúc này còn gặp mẹ Tài. Gạo hồi cư 6 tháng cũng vừa hết. Bà con sống nhờ vào đồng lương lính hay công chức quá eo hẹp không biết làm sao sống trên cồn cát trắng phau? Có thể bà con giờ này ai còn sống cũng có thể quên những ngày 'cơ khổ' lúc hồi cư? Gạo thiếu củi hết? những cồn cát bới tung hết rễ sim mốc làm chất đốt, nhưng rồi dần dà cũng cạn kiệt? Đời sống phải giảm thiểu từ ba bữa ăn trở thành hai bữa ăn tức là lúc 10 giờ sáng và 4 giờ chiều. Đó là chương trình hồi cư thì chỉ biết là hồi cư nhưng sống ra sao thì không ai tính trước cho người trở về Khu Thị Tứ.

TKQT và khu Thị Tứ Hải Lăng 1973


Đó là những gì gọi là đời sống bà con cố cựu của tôi khi tôi về đơn vị. Vào hậu cứ Tiểu Đoàn 105 chờ xe tiếp tế lên núi để đi theo. Tôi không đợi quá lâu vì mỗi tháng đều có ba chuyến tiếp tế lên đơn vị.

***

Chiếc GMC của tiểu đoàn 105 ì ạch mò quanh co theo con đường sơn đạo lên hướng Ô Đô mất gần nửa ngày. Tất cả mạch sống của mấy tiểu đoàn hướng núi chỉ nhờ vào sơn đạo này. Làm gì có máy bay vào lúc này hoạ chăng TQLC còn may ra. Lính Địa thì mong chờ vào hai bàn chân và mấy chiếc GMC của TK tuy cũ kỹ nhưng là người tiếp vận đắc lực cùng trung thành nhất.



              CĂN CỨ ĐÔNG ÔNG ĐÔ 


Tôi đã quen rồi chuyện đi và quen xa ánh đèn phố thị.
Nên dẫu mùa Xuân đơn vị không bánh ngon không rượu quý, tôi nào nghe thấy lạnh trong tôi...



    Men theo những triền tranh tôi về chốt trung đội. Anh em gặp nhau mừng vui hỉ hả như thể người thân vừa về lại  nhà. Tội nghiệp tôi chẳng có quà gì cho anh em ở lại. Đi bệnh viện về có gì đâu ngoài cái thân  ốm "còm nhom" đó thôi.

Trung đội phó tên Thản suýt xoa kể cho tôi nghe chuyện đêm kia khi nghe quả lựu đạn gài dưới chân đồi phát nổ ra sao? Tất cả Trung đội lên đạn sẵn sàng, tưởng sắp bị đánh?

 Đó là một đêm vắng mặt tôi, người trung đội trưởng. Sáng dậy một người bò xuống chốt. Té ra con mang bị vướng lựu đạn chết oan. Được mười mấy ký thịt- chất tươi đàng hoàng.  

"Tiếc quá không có mặt ch. uý liên hoan một trận cho đả"


Trung đội phó Thản vừa kể vừa phân trần. Phó Thản  vác sang đại đội trưởng Lê Kim Chung một cái đùi sau, còn chia cho 2 chốt tiểu đội kia...

-Vừa xong thì chuẩn uý lên...

Tôi không nhớ có cám ơn tấm lòng anh em trung đội hay không?  chỉ tiếc là chưa thưởng thức hương vị thịt mang ra sao? xưa tôi hay nghe "Mang lạc là mác làng" không biết lành hay dữ?

Nhưng mà ở chốn núi rừng, có nhiều đêm tôi hay nghe mang 'tác' rồi có sao đâu? động trời thì mang nó tác chẳng có chi lạ.

***


Trời sắp đón xuân 1975 hay cái tết đầu tiên tôi đón xuân trên miệt núi. Tết 1974 đơn vị tôi đang đóng ở cầu Ba Bến. Tôi thì giữ cái cầu Tham Triều. Ngồi bó gối trong cái hầm bên cống Tham Triều mà nhớ gia đình ba mẹ anh em đang ở tận trong nam.

Giờ thì Xuân 1975 về rồi. Ban ngày từ chóp núi, tôi ngắm về đồng bằng. Dưới tầm mắt tôi là cả một mãng mù sương. Ngày nào quang đãng, hướng mắt về Diên Sanh tôi thấy rõ những viền cát trắng. Những lúc trời thật trong tôi còn nhìn thấy mép đại dương xanh ngọc bích.

Ban ngày chúng tôi có thú vui là đánh bài xẹp. Bài xẹp gần giống bài tứ sắc. Đó là cái thú tiêu khiển cho đời lính đóng chốt ở đây. Radio nghe riết cũng hết pin mà hết pin thì khó lòng mua được ngoại trừ dùng lại những cục pin cũ của máy PRC 25 tức là máy truyền tin của trung đội. 

Tất cả đều thiếu thốn. Mười ngày mới có một chuyến xe tiếp tế phải tới đỉnh Ông Đô nhận hàng do xe không thể bò tới chốt của từng đại đội được. Từ chốt trung đội tôi có thể men theo đồi tranh đi tắt bằng con đường tự mở để tới chốt đại đội 'ký sổ'. 

Ký sổ có nghĩa là mua thiếu hàng tại chốt đại đội. Nào kẹo đậu phụng nào sữa ông thọ cộng với bột bích chi nào thuốc hút .. những thứ này không thể thiếu. 

Nước uống thì vác ống đạn bò xuống chân núi để lấy nước khe. Đoạn đường nguy hiểm và hồi hộp, nhưng không có nước thì xem như ngồi trên chóp núi mà chết khát thôi. 
Dù nguy  nan cũng phải chia phiên vác ống đạn mò xuống khe lấy nước. Bên chốt kia, có người đi xuống lấy nước bị mất tích luôn? Hạ Sĩ Hoát (hoác?) xuống khe Trai lấy nước, không về? Sau này khi ở tù tại Trại Ái Tử, chúng tôi đi chợ mua rau tại chợ Đông Hà, bạn tù cho hay hạ sĩ Hoát làm phu kéo xe tại chợ Đông Hà. Thì ra ngày đó ông Hoác bị phía bên kia bắt cóc chứ không phải cọp vồ mất xác.


Đủ thứ nghi ngại cho căn bệnh sốt tại miền núi Ông Đô vào thời gian này: co thể do thuốc khai quang, có thể do muỗi vì sao nguyên nhân nào không quan trọng. Chuyện đáng lo là quân số quá thiếu, tiếp vận quá nghèo? 

***

Chuyện đời lính là vậy, còn 'cái mạng' để ngày ngày ngắm cảnh trời trăng mây nước, kể ra cũng còn may lắm.


Một con sông nhỏ, một khám phá lý thú đối với riêng tôi khi dò trong bản đồ vùng tôi đóng quân. Nó mang tên là "SÔNG NHÙNG'. Ngày xưa tôi  quen gọi là "Nhồng'. Cầu Nhồng là cái tên tôi không quên. Thời lớp nhì lớp nhất tôi hay vào Diên Sanh, xe phải qua Cầu Nhồng. Hồi này con đường Quốc Lộ 1 vào Diên Sanh phải qua Hải Thượng tức là con đường cũ. Qua Cầu Nhồng rồi mới đến Cồn Dê trước khi đến Diên Sanh tức là Xã Hải Thọ. 

Huyền thoại về Cầu Nhồng, thời nhỏ tôi chưa quên: người ta kể rằng: thời Pháp qua Cầu Nhồng hay có ma có khi nó xui cho tài xế thấy cả "hai cầu Nhồng" trước mắt và lái tòm xuống sông? Đó là chuyện ma thời xưa khi còn Pháp hay tôi chưa ra đời.  Rồi ba năm 1963-65 khi ba tôi làm tại Chi CA Hải Lăng, người hay lái xe vào Cầu Nhồng.xong đi lên một đoạn ném lựu đạn bắt cá. Có hôm bắt được con cá tràu quá lớn. Con cá nằm sau xe,  khoanh lại to gần bằng cái bánh xe hơi ? 

Hôm nay, Cầu Nhồng có thể đã vào quên lãng khi QL 1 đổi hướng từ Ngã Ba Long Hưng qua Cầu Dài vào tuốt Mỹ Chánh không qua Diên Sanh nữa. Từ thời có con đường mới nối QT tới tận Mỹ Chánh, khi không Diên Sanh trở thành "Thị Trấn Đìu Hìu"!



hơn 40 năm sau Sông Nhùng sạt lở  khiến nhiều căn nhà của người dân nứt nẻ, có nguy cơ đổ sật bất cứ lúc nào (Baomoi.com 12/2017)

Tôi cảm thấy thú vị với hai chữ Sông Nhùng để ngày ngày ngắm nó uốn éo lượn lờ dưới chân núi. Tiếng là sông nhưng chỉ là con suối dài, nước chảy còn mạnh qua nhiều nơi tung nước trắng xoá. Sông và thảm rừng dưới xa, hợp với nhau trông chẳng khác chi một bức tranh thủy mạc. 

***

Đời lính và quê hương đôi lúc tình cảm phát sinh là những lúc lặng ngắm non sông. Năm 1974, chính xác hơn là hè 1974 khi tiểu đoàn chúng tôi rời Ba Bến, chuyển quân về mạn biển hoán đổi Tiểu Đoàn 120. Mấy tháng đóng ở đây, khi lắng tai nghe sóng trùng dương dội vào bờ cát hoang vu cùng ngắm biển trời bao la, tôi cảm thấy tình cảm đối với quê hương dâng trào trong gió lộng. Tiếp nối, đơn vị lại hoán chuyển lên vùng núi. Tôi lại có dịp đứng trên đỉnh cao, trông xuống một dòng sông nhỏ đang lượn lờ uốn khúc. Chính lúc này, tôi mới nhận chân ra quê hương sao đẹp quá, hồn thiêng sông núi ngàn đời mãi xanh!

 Xuân 1975 sắp tới rồi, chỉ hai ba hôm nữa thôi. Một buổi trưa im vắng, tôi lại đứng trên đồi cao.  Quanh tôi toàn là những đám  rừng tranh bạt ngàn. Xuân đơn vị không một sắc hoa đó là điều chắc chắn. Màu xanh của lá màu áo ô liu thay hoa màu tết. Quà tết hậu phương, bánh chưng bánh ú từ Diên Sanh, hậu cứ Tiểu Khu đang được gửi lên.  

Hơn bốn muơi mùa xuân đi qua nhưng lòng tôi vẫn nhớ mãi mùa xuân của một chín bảy lăm. Từ mùa xuân đó tôi vĩnh viễn chẳng còn cơ hội nào đứng trên đỉnh cao để chiêm ngưỡng cảnh đẹp non sông núi rừng hùng vĩ. Dù rằng những mùa xuân biên giới hay "mùa xuân lá khô" đã thật sự trôi nhanh về miền dĩ vãng; nhưng đoá hoa QUÊ HƯƠNG vẫn thắm mãi trong lòng người bao người con xa xứ. Cứ độ tết đến xuân về nơi chân trời góc bể, vẫn còn nhiều người lính già xa quê còn ngồi vọng tưởng đến một thời cống hiến, bên chiến hào xưa chợt dâng lên nỗi hoang lạnh tâm hồn./.


Đinh hoa Lư 

Thursday, February 26, 2026

TIẾNG CHIM GỌI SÁNG



     Mùa đông đã qua, nắng xuân đang lại California hai, ba tuần nay dù chỉ báo hiệu thôi nhưng đây cũng là lúc tiếng chim giẻ bắt đầu trở lại. Năm nào cũng thế, cứ gần hết tháng Hai khi cái lạnh cuối đông chưa tàn nhưng vài vạt nắng ấm mùa xuân bắt đầu xuất hiện. Cứ sáng sớm nếu tôi biết lắng tai nghe, tôi sẽ nhận biết tiếng vài con chim giẻ bắt đầutrở lại vùng này. Tôi chẳng hề biết bầy chim chúng bay đâu mấy tháng mùa lạnh, nhưng khi ánh xuân bắt đầu le lói, mấy rặng hoa đào vùng tôi ở bắt đầu nở là lúc chúng lục đục bay về. 

                 chim giẻ xám (gray jay)



    Tôi để ý giống chim giẻ do có giống trong loại này hót nghe rất vui tai. Tôi có đọc một truyện ngắn của nhà văn Mỹ Mark Twain viết về loài giẻ xanh.  Màu xanh biếc của loài chim tác giả đó viết thật đẹp. Tuy vậy. Thật ra, tôi chưa có dịp may nào để thấy loài giẻ xanh như trong truyện ngắn của nhà văn đó cả.  
    Bầy giẻ vùng tôi đa số mang màu lông xám, chẳng có gì để khen chúng  đẹp; bù lại trời cho chúng tiếng hót, nghe thật rộn rả, vui tai làm sao!


         giẻ xanh trong truyện ngắn "What Stumped The Blue Jays" của Mark Twain

    Ngang đây tôi lại nói về cái tính siêng năng của nó. Trời chưa sáng, còn rất sớm; chợt thức giấc,tôi đã nghe tiếng kêu khe khẻ của mấy chú giẻ bên vườn hàng xóm rồi! Những tiếng kêu nhỏ hơn của con giẻ khác đáp lại như lên tiếng với nhau hay 'canh chừng' cho nhau trong giấc ngủ chăng? Rồi sau đó, tất cả chìm vào im lặng để đợi trời sáng.    


                        
     Bầy giẻ vườn tôi thường thi đua gọi nhau tiếng đổ hồi như thúc giục ai đó? Có khi tiếng chúng nghe trong trẻo như sơn ca, khi chiêm chiếp nhỏ nhỏ, rời rạc nghe giống gà con hay mấy con chim sâu đang nghiêng đầu tìm mồi trong mấy bụi chanh. Cũng có lúc tiếng giẻ lại khản đặc, khó nghe như con tiếng con quạ đen đủi xấu xí nào đó. Nói chung tiếng loài giẻ thật đa dạng  phong phú. Chả trách nhà văn Mark Twain  cho là "Huyên Náo" trong truyện ngắn của ông.  

    Có một điều hơi lạ, tôi chưa bao giờ thấy giống chim giẻ này tôi đậu im lìm, ủ dột như loài chim bói cá (chài cá) bên nhánh sông Vĩnh Định năm xưa. Đó là thời gian đơn vị chúng tôi trú quân bên cầu Ba Bến. Hình ảnh một giống chim lông xanh, lặng lẽ đậu trên nhánh cây khô, soi hình trên bóng nước, kiên nhẫn chờ mồi. Những ngày sau ngưng bắn, hai bên giới tuyến 'trái độn, da beo', làng thôn im lìm, cảnh vật cũng im lìm, ngay cả tiếng những bầy chim cũng 'lặng im' không biết chúng bay về đâu trong tháng ngày đó?

     
con chim bói cá ngày xưa bên cầu Ba Bến

***




     Trở lại chuyện mảnh vườn xứ Mỹ hôm nay khi nắng ấm càng nhiều, bầy giẻ càng kêu vui góp tiếng cho mùa xuân đang đến.Tiếng hót của chim làm lòng người cảm thấy vui hơn.  Cảm giác gần gũi với thiên nhiên, chan hòa trong tiếng hót của loài chim giẻ càng làm tôi nhớ tiếng chim cà cưỡng hay tiếng chèo bẻo của quê huơng trong cánh rừng  Bình Tuy sau này. Lại một lần nữa tôi phân biệt tiếng chim chèo- bẻo "ồn ào " hơn tiếng chim giẻ nhiều.

chim sẻ ở California

     Người viết muốn trở lại chuyện chim sẻ. Bầy sẻ ở đây xuất hiện thuờng luôn. Chúng trông chẳng khác gì chim sẻ ngày xưa Quảng Trị; từ màu lông cho đến độ lớn. Chim sẻ ở đâu mà không ở từng bầy! chúng hay bay thoáng qua vườn tôi, chen chúc trong khóm chanh hay đuổi bắt nhau trên cành thông cao hàng xóm, rộn ràng một hồi rồi lại bay mất. Lủ giẻ xóm tôi xem khác hẳn. Chúng quanh quẩn, thi nhau kêu hót trên mấy cây mận  hay thông trong vùng, không hề bay xa.

       Có điều chim giẻ chỉ ở vùng Bắc Cali này;  cũng như hai loài chèo bẻo và cà cưởng chỉ có bên quê nhà. Qua đây lâu ngày tôi không còn nghe lại tiếng chim chèo bẻo bên nhà. Mỗi lúc nắng lên cao tiếng chúng kêu nhau náo động trong rừng.

      Từ quê huơng sang đến xứ người, tôi có dịp so sánh tiếng hót của một vài loài chim. Chim trời cá nước, làm sao so sánh hết được? Thiên nhiên quá bao la rộng lớn, bao cánh chim bay khắp bầu trời mang theo tiếng hót giúp vui cho đời một ý nghĩa thanh tao bên sắc màu rực rở của lá hoa cây cỏ.


người viết đã chụp được hình con giẻ xám này, nó đang nghểnh cổ hót liên hồi như sơn ca. Xuân về là loài chim này bay trở lại 

        Đông đi xuân đến, vẫn mãi là vòng tuần hoàn bất tận của thời gian. Dù nắng ấm lên cao hoa rộ nở, nếu như đời này vắng tiếng chim hót líu lo thì xem ra tẻ nhạt biết chừng nào? Đó là cảm nghĩ của tôi, những lúc thức giấc cố lắng tai nghe tiếng chim gọi sáng. Bỗng nhiên trong tôi dâng lên một cảm xúc trìu mến lạ lùng. Thật thế, tôi thầm cám ơn tạo vật đã sinh ra cho chúng ta nhiều loài chim để hàng ngày chúng hót líu lo cho đời thêm vui ./.

Đinh trọng Phúc 2013

Wednesday, February 25, 2026

TÔI XIN ĐA TẠ

p>

ký ức này ghi lại để  tri ân từ một câu chuyện thật trong đời 
Đinh trọng Phúc

***

Tôi xin đa tạ ngày nao súng phải thẹn thùng.
Ngày nao súng phải lạnh lùng
Nắng hạ vàng rưng rưng mây trắng...

(Anh Việt Thu) 



    Chiếc xe chạy suốt Phi Long đậu nối tiếp vào đoàn xe đang tắt nghẽn bên này cầu Tam Quan rồi tắt máy hẳn. Tiếng lao xao đầu nhỏ sau lớn dần:

      -Cầu sập rồi, mới hồi hôm?

     -  Thấy mẹ!  dzậy là phải 'tăng po" (transport) rồi?

Ông tài xế xuống trước tiên:

      -Thôi chịu bà con à, mời bà con qua bên kia cầu có xe Phi Long chờ, ai giữ lấy vé và số ghế y cũ và nhớ lấy hành lý của mình nghe bà con?

Đa số khách đi là thường dân, họ thúc thủ bước xuống chấp nhận rủi ro. Chuyện cầu bị 'giải phóng' giật sập trong thời chiến này nghe như cơm bữa, họ chỉ mong qua được cầu có xe Phi Long tiếp chuyển bên kia. 

      -Có đò ngang dưới kia đưa bà con qua, nhớ xe đề Phi Long nghe bà con.

Người tài xế nhắc nhở hành khách trong xe mình một lần chót, mặt ông tài không biết buồn hay vui?  gần hết năm rồi gần qua năm mới đón tết tây 1975 nhưng làm ăn vẫn không yên theo chuyện cầu sập do mìn? 

Khách không dám phàn nàn, họ biết đang di chuyển qua vùng 'mất an ninh' nên phải coi chừng cái miệng?


một chiếc xe đò Nam Lộc 

Hành khách dù già trẻ gì đều là dân thường.  Phần nhiều đều nói giọng Quảng Nam hay Bình Định. Họ chú ý đến một ông lính thật trẻ: thời buổi này dám bận đồ nhà binh đi xe hàng? Điều đặc biệt trên cổ áo lại còn mang hai cái lon chuẩn uý?

      -Sao chuẩn uý lại bận đồ nhà binh dzậy?

Một người đàn ông bận cái vét trắng, ông quàng bên vai cái xắc đen, mang kính cận. Ông có vẻ là một nhà báo hay nghề nghiệp dân sự nào đó? ông ta hỏi ngay người sĩ quan trẻ đang bộ bận bồ đồ lính màu xanh ô liu kia.

      -Thưa ông, tôi mới có phép ngoài Quảng Trị vội vô ngay Đà Nẵng mua vé xe Phi Long đi ngay vô SG ông à.

      -Ôi! ôi! anh không biết vùng này mất an ninh lắm không? "Họ' vừa làm sập cầu hồi khuya, người dân đưa đò ngang dưới sông này là trong làng người "bên kia' cả đó anh biết không? 

Ông nói nhanh vừa ái ngại nhìn người chuẩn uý trẻ, anh ta dáng người ôm ốm lỏng khỏng, da mặt xanh xao có vẻ mới qua cơn bệnh nào đó, giờ nghe ông nói chợt xanh hơn.

Mấy bà già vài cô chú đi cạnh ông bận áo vét kia nghe vậy lắc đầu lo lắng giùm. Họ đi sát vào hai người cho màu áo lính của anh  được khuất vào giữa đám đông dân thường đang bước thấp bước cao xuống bờ sông.

        -Đi mau giữa chúng tôi, chuẩn uý... rùn người thấp xuống?

Ông bận áo vét nói xong, mấy ông già và đám nói trên không ai bảo ai đều áp sát vào anh lính trẻ cho anh đi giữa.

    -"Họ" đó, mấy người lái đò kia đều là 'du kích' cả tui biết mà.

Ông già có bộ râu bạc, nói nhỏ giọng đi cho anh lính và ông bận cái vét trắng vừa đủ nghe. Bộ râu trắng của ông rung rung không biết vì gió hay vì lo sợ?

Một chú trung niên dáng nông dân tiếp lời ông già:

      -Tuần trước một dzụ trong Cầu Bồng Sơn, công binh mới sửa cầu xong giờ cái này. Cũng may là cầu này nhỏ, sông qua bên kia chỉ chút xíu à!

Có khoảng năm con đò ngang rộn ràng đưa người qua lại. Con sông khá nhỏ, nước đục ngầu không biết do phù sa hay đò quậy nước nhiều. Những người bận quần đùi đội nón lá, nam có nữ có. Họ im lìm làm việc. Lạ một điều khách không lo chuyện tiền đò do lái xe lo liệu. Một điều rất lạ không thấy một bóng người lính nào giữ an ninh trên hai múi cầu vừa bị mìn hôm qua?

Người khách trên chuyến xe Phi Long này chẳng còn thì giờ hỏi han anh lính ngoài kia Quảng Trị mới vào đây. Anh chàng tuy mang áo lính nhưng trên khuôn mặt kia còn phảng phất nét non nớt thư sinh. Nghĩ cũng có lý, nếu không 'non nớt thư sinh" sao dám 'xâm mình' bận đồ lính đi xe đò thế này?

     -Hú hồn...

Bà con vẫn để anh đi giữa cho đến cửa xe chiếc Phi Long chờ bên kia sông. Khi anh lọt vào xe xong họ mới lo cho mình, lục đục bỏ đồ lại lên xe tìm số ghế...

Nghe giọng anh nói  bà con trong xe tin chắc anh "ngoài kia" mới vô. Bà con biết Quảng Trị nhất là từ năm kia sau cái vụ "Mùa Hè Đỏ Lửa" và "Đại Lộ Kinh Hoàng" người dân mấy tỉnh từ Quảng Nam cho đến Quảng Ngãi cho đến Bình Định ai mà không hay? Người Quảng Trị vô Đà Nẵng mấy năm này đông quá đi đâu họ cũng gặp cũng nghe cái giọng giống anh.












Thời chiến, đường xe lửa đã bỏ từ lâu. Xe đường dài từ Huế Đà Nẵng vào tận Sài Gòn chỉ còn mấy chiếc xe đò liên tỉnh, các hãng như Nam Lộc, Phi Long, Tiến Lực... còn dám "liều mình" chạy suốt Sài Gòn -Đà Nẵng. Bao chuyến xe hàng nói trên từng chứng kiến, nói đúng hơn là xem chuyện "tăng po", có nghĩa là bị trở ngại giao thông do mìn nổ, cầu sập tưởng như 'cơm bữa". Không liều mình đi như thế thì còn có phương tiện nào nữa? Người miền nam một thời như thế, tất cả chỉ nguyện cầu ông trời phò hộ cho khỏi bị mìn du kích? Đường xe lửa xuyên suốt miền nam từ Đông Hà vô tận Sài Gòn không còn; Chỉ còn một thứ phương tiện là xe hàng như thế. Máy bay là chuyện hiếm hoi chẳng ai nghĩ tới !?






một 
chiếc xe đò Tiến Lực bên múi cầu Truồi   1969

Bà con trên chuyến xe không ai bảo ai đều thương và muốn bảo vệ cho anh lính trẻ. Khi nhìn nét mặt trẻ măng kia có thể họ nghĩ tới hình ảnh con em họ: một thời chiến chinh, biết bao người phải "gác bút nghiên" đi vào cuộc chiến? 

Ông khách bận vét trắng giờ mới có thì giờ lau lại cặp kính. Là người Đà Nẵng, Ông không lạ gì người Quảng Trị mấy năm nay trú ngụ rất đông tại Hoà Khánh và Non Nước hai căn cứ quân đội và phi trường cũ. Con ông cũng vào lính, lâu lắm mới có chuyến phép về thăm nhà tại Đà Nẵng. 

Hai người nói chuyện qua lại với nhau. Anh lính trẻ cho ông khách đó hay, do mấy tháng bị sốt liên miên, anh được về nằm ngót hai tháng tại bệnh xá Tiểu Khu QT. Hết  sốt, cầm trên tay tờ phép thường niên mười lăm ngày đầu tiên trong đời lính, xong anh vội đi ngay vào nam với bất cứ phương tiện nào. Gia đình người lính trẻ đó đã vô hết trong nam. Vào được trong kia, anh còn đi xa hơn có nghĩa vô tới Sài Gòn anh còn về tận thành phố Mỹ Tho do nhà anh kể cả bà con bên ngoại, chạy giặc 1972 vào tận trong đó.

Có thể anh lính này thuộc loại 'điếc không sợ súng", liều lĩnh?  Chẳng phải thế đâu do nơi anh phục vụ là tỉnh ngoài cùng của miền nam- vùng "Hỏa Tuyến Địa Đầu" nên chẳng có phương tiện nào ưu tiên trong vấn đề quân vận của quân đội để xin đi. Rồi chẳng để phí mười lăm ngày phép nếu phải chờ đợi xin xỏ, cuối cùng anh phải đánh liều vào ngay Đà Nẵng mua vé xe đò...

Chẳng ai hay và chỉ có anh biết cho mình- nằm bệnh xong, cầm tờ giấy phép của Tiểu Khu cấp trong tay anh chẳng có gì ngoài cái va lô trống rỗng và một bộ đồ lính trong người...

*



Tôi xin đa tạ dòng máu thắm đỏ ruộng cây
Dòng máu đã chảy miệt mài
Trên đồng sâu hay trên nương lúa
Xanh thăm thẳm mắt em thơ
Xin đa tạ mẹ quê nắng loã mù loà
Mẹ quê nước nở lệ nhoà
Nắng hạ vàng rơi phủ bờ vai
Lời ai ru gió hiu hiu buồn  (Đa Tạ / Anh Việt Thu) 


Một Mùa Hè Đỏ Lửa khi bà con, gia đình, tất cả đều ra đi. Một phương nam xa vời và hôm nay anh đang hướng về đó.  Một con đường quê hương đầy bom mìn và sụp đổ nhưng anh lính trẻ kia trong một ngày cuối năm Một-Chín-Bảy- Tư- người lính trẻ năm xưa còn nhớ mãi một may mắn trong đời-- đó là lúc anh được  đi giữa lòng đồng bào và được chở che.

 Bao lứa trai nối bước nhau ra đi trong thời chinh chiến. Biết bao mong đợi, nhớ thương từ người nhà ngày đêm trông về những đứa con phải ra tiền tuyến, cách biệt với người thân nay là hình ảnh chân thành thể hiện trong cùng một chuyến xe đò xuyên Việt.

   Thời gian trôi mau, phôi pha gió cát cùng lấp che trong nỗi thăng trầm dân tộc. Nhưng người lính năm xưa, còn sống, còn hướng về quê hương anh vẫn nhớ mãi hình ảnh chuyến xe đò vào nam đầy ắp tình nghĩa đồng bào.  Những ngày dài chinh chiến trên đất mẹ thương yêu, thương nhớ làm sao bao tấm lòng rộng mở. Đó là những bàn tay nhân ái từ Tình Dân làm cho người lính VNCH xưa Đa Tạ suốt đời./.


KÝ ỨC edit by Đinh trọng Phúc
25.2.2026 

Tuesday, February 24, 2026

PHỐ XƯA


Gió cuộn mây đưa về, làm không gian chợt tối.
Khu phố xưa điêu tàn, vì tay quân giặc thù.
Nghẹn ngào tôi nghe như trời đất vỡ,
xót xa phố phường ôi giăng bao câm hờn... (Tú Nhi)


...Những con đường cũ nay tôi chẳng còn nhìn ra.  Nhà cửa hiện giờ san sát bên nhau, không còn dư một mét đất nào. Nhiều nhà trọ, khách sạn đua nhau xây dựng từ Quốc Lộ 1 đi về.  May thay còn sót lại rất ít di tích cũ chiến tranh, rõ nhất là mảng vách Trường Tư thục BỒ Đề nhưng loang lỗ dấu đạn... đó là những gì sau bốn thập niên tôi có thể sờ mó và có thể cảm nhận được niềm xúc động cho ngày trở lại phố xưa...





người dân thành phố Quảng trị đang ở hiện nay là ai? "con bầy cháu lũ " mới đó mới đây giờ toàn là thế hệ trẻ -mới. Trong tôi hình như có một cảm giác họ chẳng còn dính dáng gì mình nữa , mặc dầu họ đang sống trên đất QT và tôi là cư dân sinh ra lớn lên trên thành phố QT nay đang trở về.


   Bốn cổng đường thành nay đã xây lại, nhưng lạ thay tôi có cảm giác đường nét không còn mềm mại - uyển chuyển như xưa. Với tôi, người sống trước cổng thành QT ngót hai mươi năm mới xa ; hình dáng thành xưa đã khắc ghi trong trí nhớ. Quảng trị mới,  có cổng thành mới, bao gạch đá đổ nát trong cuộc chiến  nay đã vùi sâu dưới lòng đất, ai cũng tiếc cho một di tích  ngàn xưa lưu vết tiền nhân...







Tôi theo con đường về làng quê. Tất cả mọi làng đang đang ồ ạt "bê tông hóa”. Nhà nhà thi nhau xây mới -mái ngói vách xi măng. Giờ tôi khó tìm ra mái tranh xưa ẩn hiện bên hàng cau hay bờ tre xanh ngắt. Những con đường vào làng đang lần lượt đổ xi măng thay nhựa đường. Tất cả đều đi lên theo tiện nghi cùng điện khí hóa về tận mọi ngõ ngách . Giờ đây ánh sáng điện đã về khắp nơi, từ thành phố đến nơi thôn dã. Bà con đang đầy ắp tiên nghi nhờ điện lực mang về...




Khi xưa vừa ra khỏi thành phố tôi phân biệt ngay là đang về làng. Những mái tranh , những con đường đất quanh co qua bao đồng lúa, bao làn khói lam chiều cho nồi cơm dùng rơm nấu bếp. Cái nghèo, cái mộc mạc đơn sơ khi về quê ngoại  vẫn mãi lưu giữ trong lòng  kẻ tha huơng bao tình cảm và nỗi nhớ nhung theo chân tôi qua đến xứ người cùng mấy thập niên trôi nổi...


*



Thứ bảy mưa rơi nhiều, chiều bơ vơ một bóng
Trên phố xưa tiêu điều, lạnh sao ôi rợn người.
Lặn lội tôi đi, đi tìm quá khứ
Dấu in gót hài theo mây về cuối trời.


  Sẽ có người trách người viết sao mãi bám vào những ý nghĩ khắt khe, cứng nhắc kia. Quê huơng đổi thay cùng "lột xác" hoàn toàn từ làng đến tỉnh nhưng sao cứ khư khư, cố chấp với bao chuyện xa xưa vô ích thế kia.

    Thật tình, tôi khó giải thích thứ tâm lý trong lòng một người trở lại. Tôi nhớ mang máng lúc còn nhỏ, có đọc một bài đọc ngắn trong cuốn quốc văn, có một người đàn bà sau bao năm lưu lạc về lại quê làng.  Bà nhìn lại hình ảnh cây đa bến cũ mà không cầm được nước mắt. Những hình ảnh thân yêu lúc người đó ra đi từ thời son trẻ cho đến ngày lui bước trở về thôn xưa vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt".  Tâm lý của người trở về như người viết còn buồn hơn nhân vật trong câu chuyện cũ; do bà về còn có “cây đa cũ- bến đò xưa” để an ủi, còn tôi (hay nhiều kẻ khác) nay chẳng còn chi...






về lại quê xưa tôi bỗng dưng hụt hẩng, khác với sự háo hức lúc sửa soạn khởi hành. Lý do do khó tìm lại hình ảnh đồng quê - hình ảnh phân biệt để biệt giữa nông thôn và thành thị. Có thể dần hồi chúng ta sẽ không còn nhận được làn hơi ẩm thấp từ cái vách đất, mùi ngai ngái của tấm phên lá, hay thứ cảm giác là lạ khi nằm trên cái giường tre ngày trước. Từ tỉnh về quê, khó cởi thoát được cảm giác cái vách xi măng xung quanh mình. Sự phát triển là đây- khi ranh giới giữa đô thị và thôn làng từ từ biến mất. Nhưng nó lại kèm theo sự mất mát tâm lý cho ai có cái thú "du lịch đồng quê " . Tôi có cảm tưởng rằng giờ đây mọi người đang thi đua "xi măng, cốt sắt hóa" tất cả - mọi huớng, mọi nơi. Tôi hình dung cuộc sống giờ như đang đuổi theo tốc độ của những chiếc xe máy. Mọi trao đổi giao tiếp đều hối hả, vội vàng, pha trộn, khô khan, cộc lốc.


  Hình ảnh QT xưa giờ đã xóa nhòa.  Từ bến đò bên dòng sông Thạch cho đến bãi Nhan Biều đều lạ lẫm.  Thời học trò, bốn mươi năm trước tôi từng đứng bên ni sông ngó qua bên tê , bãi Nhan Biều đất bồi thoai thoải , sâu vào trong- những truông bắp một màu xanh ngắt.


   Một đất nước đang chuyển mình - sống vội - nhưng mục đích  không biết về đâu? Quảng trị đang tìm cách hòa mình vào một nhịp sống khác xưa như những thành phố lớn hiện nay: Đà Nẵng, Sài gòn, Hà nội. Những giấc ngủ ngắn hơn -chờ ngày mai thức dậy lại lao vào một chuẩn mực mới của thế hệ: đi kiếm sống , sắm sanh, trả nợ, nhậu nhẹt lấy sức và lại tiếp tục kiếm tìm. ..

 Chỉ có đi lâu trở về dễ nhận  ra rằng mình đã lạ hẳn đi trong cách giao tiếp , bở ngỡ rụt rè- vì trong tâm người  về nhận ra rằng “đường xưa lối cũ” không còn ! kể cả người xưa - những con người "thị xã"-  giờ phiêu dạt nơi đâu ? họ ra đi biền biệt phương nào ?

Giờ tôi lại giã từ Quảng Trị, một thành phố mới, xa lạ với riêng tôi.  Tôi ra đi vẫn mang theo hình ảnh một thị xã xa xưa mờ nhạt trong lòng./.


tái đăng by Đinh trọng Phúc


24/2/2026 San Jose USA